Cùng với hệ thống nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực đạo đức chung của xã hội, mỗi nghề nghiệp xã hội lại có các chuẩn mực đạo đức chuyên biệt đòi hỏi người làm nghề phải tuân thủ nhằm bảo đảm nghề nghiệp luôn có ý nghĩa xã hội, con người. Từ vai trò, phạm vi ảnh hưởng, từ tác động,… của báo chí mà đạo đức người làm báo, đã trở thành một yếu tố không chỉ giúp nâng cao chất lượng báo chí, mà còn cấu thành nên uy tín của báo chí, lòng tin của xã hội và bạn đọc.
|
Về đạo đức người làm báo, Điều 15 (Quyền và nghĩa vụ của nhà báo) Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã đưa ra các tiêu chí cụ thể, Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017) hoàn chỉnh nội dung này tại khoản 3 Điều 25 (Quyền và nghĩa vụ của nhà báo) khẳng định nhà báo phải “a. Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; b. Bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm; c. Không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật; d. Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; đ. Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật; e. Tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo”. Các nội dung kể trên cũng là các vấn đề được Hội Nhà báo Việt Nam hết sức quan tâm, đã thể hiện qua việc ban hành Quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam, trong đó Điều 3 khẳng định mỗi người làm báo Việt Nam cần phải luôn “Hành nghề trung thực, khách quan, tôn trọng sự thật”.
Xem xét trong tính hệ thống và mối liên quan chặt chẽ, sẽ thấy: nếu Điều 16 (Hội Nhà báo Việt Nam) Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 có nội dung ngắn gọn: “Hội Nhà báo Việt Nam có quyền và nghĩa vụ tham gia xây dựng và góp phần thực hiện chính sách thông tin - báo chí; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà báo” thì khoản 2 Điều 8 (Hội Nhà báo Việt Nam), Luật Báo chí năm 2016 quy định rất cụ thể: “Hội Nhà báo Việt Nam có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên; b. Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; c. Tham gia ý kiến xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển báo chí, văn bản quy phạm pháp luật về báo chí; d. Tham gia thẩm định sản phẩm báo chí khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đ. Bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và nghiệp vụ báo chí cho hội viên; e. Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước tuyên truyền, phổ biến pháp luật về báo chí; g. Tham gia giám sát việc tuân theo pháp luật về báo chí; thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật; h. Tổ chức giải báo chí để tôn vinh những tác giả, nhóm tác giả có tác phẩm báo chí chất lượng cao, có hiệu quả xã hội tích cực”. Như vậy, có thể thấy, với điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Báo chí năm 2016, thì việc Hội Nhà báo Việt Nam: “Ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo” là yêu cầu luật pháp, bắt buộc với mọi người làm báo, không phân biệt người có Thẻ Nhà báo hay không có Thẻ Nhà báo. Đây là điều hết sức cần thiết, nhất là khi tình trạng thiếu đạo đức nghề nghiệp của một số người làm báo, mà nổi lên trong đó là việc khai thác thông tin sai sự thật trên mạng xã hội, không kiểm chứng để đăng tải, bình luận trên báo chí và gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến uy tín báo chí.
Trên thế giới, từ sự thiếu thận trọng trong khi khai thác thông tin từ mạng xã hội mà một số tờ báo phải nhận lấy hậu quả tai hại. Gần đây nhất, ngày 12-6-2016 New York Times (Thời báo Niu-Ooc) và một số hãng tin vướng một scandal vì dựa vào nguồn tin từ twitter để đăng tải hình ảnh một người đàn ông được cho là nạn nhân trong vụ xả súng tại Florida (Phờ-lo-ri-đa - Mỹ) nhưng anh ta vẫn sống và làm việc tại Mê-hi-cô; bi hài hơn là vừa qua trên một số báo, người đàn ông này lại tiếp tục trở thành “nạn nhân” trong vụ khủng bố tại sân bay Ataturk (A-ta-tuc - Thổ Nhĩ Kỳ)! Nên không ngẫu nhiên, ngày 12-10-2015, qua bài Năm trong số những kẻ gian dối nhất trên Facebook từng bắt gặp (5 of the best times cheaters were caught on Facebook) đăng trên The Sun, phóng viên N. Keegan (N. Ki-gân) phân tích kỹ lưỡng về các mánh khóe lừa bịp phổ biến trên mạng xã hội nói chung, facebook nói riêng. Ở Việt Nam, nhiều hiện tượng tương tự đã xảy ra, làm rối loạn nhận thức và hành động của người tiếp xúc thông tin, xúc phạm danh dự người đề cập. Như sau khi kết quả kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2016 công bố trên phương tiện truyền thông, một số tờ báo có bài “soi điểm thi” của các hotgirl, hotboy, hiện tượng mạng… Đây là việc rất bình thường, vì nếu muốn “đại diện cho giới trẻ”, các gương mặt trên còn cần sở hữu tài năng, nhân cách,… mà có thể xem điểm số kỳ thi là một tiêu chí để đánh giá. Tuy nhiên, có người làm báo đi quá xa, nhân chuyện điểm số để bới móc chuyện đời tư. Hai facebooker MT, LHTT không hề quen biết PTLT, chỉ dựa trên đồn thổi vô căn cứ, đã bịa ra chuyện PTLT (một gương mặt nổi bật về thành tích học tập, hoạt động ngoại khóa ở một trường trung học phổ thông chuyên nổi tiếng) tốt nghiệp với điểm trung bình khá, gian lận trong học tập, thi cử, ăn cắp chất xám, là nguyên nhân gây nên cái chết của một học sinh khác! Song dựa vào đó và không kiểm chứng, một số trang điện tử đăng tải, chia sẻ bài Xôn xao vì “hotgirl thụ tinh ống nghiệm” đạt huy chương vàng môn Sử nhưng thi TN chỉ... 3,75 điểm thuật lại chuyện bịa đặt hết sức xấu xa của MT và LHTT, đưa tới một làn sóng “khủng bố” trang facebook cá nhân của PTLT. Dòng trạng thái được PTLT chia sẻ ngày 18-7-2016 có đến 165 bình luận từ những người thiếu lương tâm với nội dung công kích, xúc phạm. Trên facebook của học sinh quá cố TGK, người bạn cùng PTLT đã sáng tạo máy phát hiện đột quỵ, cũng bị hàng nghìn facebooker vào quấy rối. Cáo buộc như vậy hoàn toàn có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh dự, tương lai của một nữ sinh 18 tuổi cùng thầy, cô giáo của trường trung học phổ thông nọ. Gặp phản ứng từ phía học sinh khác cùng việc PTLT đưa ra những bằng chứng lật tẩy trò dối trá và bịa đặt, MT và LHTT lẳng lặng rút bài xuống.
Sự việc trên gợi nhớ chuỗi các sai lầm của các báo điện tử do khai thác thông tin sai sự thật công bố tại tài khoản cá nhân trên facebook. Cụ thể, 17 giờ 55 phút ngày 13-7-2016 một trang mạng đăng bài Câu chuyện cô gái đòi mẹ mua xe máy đắt tiền gây bất bình; tới sáng ngày 14-7-2016 thì nhiều trang mạng chia sẻ bài trên fanpage của họ. Nội dung bài viết khai thác từ bức ảnh và bình luận của một facebooker sau khi anh ta “thấy” một nữ sinh đòi mẹ mua xe máy đắt tiền; trong khi sự thật thì cô gái này có công việc, thu nhập ổn định, cô muốn người mẹ đi cùng để chọn lựa một chiếc xe phù hợp và tác giả HT tường thuật câu chuyện trên mà không kiểm chứng. Sau 45 phút, fanpage của trang mạng công bố bài báo khơi mào xuất hiện bài Cô gái đòi mẹ mua xe đắt tiền: “Mình rất bức xúc” đính chính sự việc trên nhưng không gỡ bài viết cũ hoặc có lời xin lỗi nạn nhân và độc giả, để làn sóng “ném đá” tiếp tục kéo dài đến hết ngày 14-7-2016! Tương tự là nhiều sự kiện xảy ra trên nhiều trang mạng khác, như: tháng 8-2014, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) xử phạt vi phạm hành chính với một số báo chí đã đăng bài Bài văn của trẻ khiến giáo viên và phụ huynh ngã ngửa vốn là trò đùa thiếu văn hóa của một facebooker; ngày 12-7-2016 chuyện bịa đặt “bố từ quê lên Hà Nội đi hát và tìm thấy con gái đang làm việc trong một quán karaoke” do thành viên trên fanpage beatvn đăng tải; tháng 6-2016, sự việc “con gái không cho mẹ ăn bún” là sự bịa đặt của facebooker ML; tháng 3-2016, một số trang tin đăng chuyện “con trai đánh cha ở Hải Dương” và công an phải triệu tập người chụp ảnh, đưa tin lên facebook không đúng sự thật, ảnh hưởng đến danh dự của gia đình được đề cập; tháng 1-2016, một trò đùa của người em dâu, hai người phụ nữ bỗng trở thành “đối tượng người Trung Quốc chuyên bắt cóc trẻ con” và bị truy lùng trên mạng xã hội; tháng 5-2015, nhiều tờ báo đăng tin “cô gái nhận đứa con của người cha nghi là tử tù” trước khi phát hiện đối tượng này nói dối!... Đáng nói là trong rất nhiều trường hợp người viết báo và đơn vị truyền thông sai phạm lại tỏ ra như vô can, dù việc cải chính trên báo chí đã được quy định trong Điều 9 Luật Báo chí sửa đổi và bổ sung năm 1999. Nên không ngẫu nhiên thống kê cho thấy trong tổng số 5.144 người đã thực hiện đánh giá fanpage một báo điện tử đông người đọc ở Việt Nam có tới 75% số người chỉ cho 1 điểm kèm theo các nhận xét: “cần đăng bài nội dung sát với thực tế và chủ yếu là tin có giá trị, không biên tập sơ sài đăng những bài vớ vẩn kiếm lượt thích (like) lượt chia sẻ (share)”; “thông tin không đa chiều, làm báo mà đưa thông tin như thế này là không có lương tâm”; “thông tin ngày càng nhảm nhí”…! Với Điều 42 Luật Báo chí năm 2016 (Cải chính trên báo chí), hiện tượng này cần giải quyết triệt để, nhằm giữ gìn sự lành mạnh của báo chí.
Theo TS Lê Thanh Thập: “Đạo đức nghề nghiệp là một nhánh trong hệ thống đạo đức xã hội, là một loại đạo đức đã được thực tiễn hóa. Lương tâm nghề nghiệp là sự tự phán xét, tự ý thức về trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp. Nghĩa vụ đạo đức nghề nghiệp và lương tâm nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau. Đánh mất ý thức về nghĩa vụ đạo đức là đánh mất ý thức về bản thân mình, làm mất ý nghĩa làm người cũng như giá trị động lực của lao động”, thiết nghĩ đây là điều mà mỗi người làm báo cần quan tâm, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, làm hình thành nên nhân cách nghề nghiệp của mỗi người, hướng ngòi bút tới những giá trị nhân văn, hữu ích cho xã hội, cho con người và vì con người.
|
| VIỆT QUANG |
Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016
Đạo đức người làm báo - một vấn đề luật định
Bảo đảm thông tin trung thực, lành mạnh
Gần đây, hiện tượng viết và đăng tải các thông tin thiếu kiểm chứng, bịa đặt, xâm phạm đời tư của người khác, hoặc quy kết tội danh khi chưa có bản án của tòa,... của một số nhà báo và địa chỉ truyền thông đã ảnh hưởng tới sinh kế của nhiều người dân, khiến không ít bạn đọc hoang mang, suy giảm niềm tin đối với báo chí. Theo Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017), những sai phạm như vậy sẽ bị xử lý nghiêm khắc.
|
Trước diễn biến ngày càng phức tạp trong lĩnh vực truyền thông, Luật Báo chí năm 2016 đã kịp thời sửa đổi, bổ sung một số điều khoản mới (như tăng thêm 25 Điều, có 32 Điều xây dựng mới, 29 Điều sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Báo chí hiện hành), từ đó xây dựng mối tương thích với các luật liên quan, bảo đảm tính khả thi trong thực tế. Như các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động báo chí được quy định chi tiết, cụ thể tại Điều 9 (Các hành vi bị nghiêm cấm). Đáng chú ý, tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10 Điều 9 đã bổ sung một số hành vi bị cấm, cụ thể: “6. Thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín, dị đoan; thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng; 7. Kích động bạo lực; tuyên truyền lối sống đồi trụy; miêu tả tỉ mỉ những hành động dâm ô, hành vi tội ác; thông tin không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam; 8. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án; 9. Thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em; 10. In, phát hành, truyền dẫn, phát sóng sản phẩm báo chí, tác phẩm báo chí, nội dung thông tin trong tác phẩm báo chí đã bị đình chỉ phát hành, thu hồi, tịch thu, cấm lưu hành, gỡ bỏ, tiêu hủy hoặc nội dung thông tin mà cơ quan báo chí đã có cải chính”.
Cần khẳng định rằng, Luật Báo chí năm 2016 đã kịp thời nắm bắt sự phát triển các loại hình báo chí, nhất là báo điện tử được đề cập rất cụ thể, từ đó đề ra biện pháp xử lý vi phạm triệt để hơn, như: Ngoài việc đăng, phát lời cải chính, xin lỗi còn phải gỡ bỏ ngay thông tin sai sự thật đã đăng, phát; cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử tổng hợp đã đăng, phát thông tin của cơ quan báo chí khác có nội dung phải cải chính, xin lỗi cũng phải thực hiện đăng lại cải chính, lỗi của cơ quan báo chí vi phạm. Bên cạnh cải chính, xin lỗi công khai, tùy mức độ vi phạm, các cơ quan báo chí còn có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động.
Xét từ thực tế hoạt động báo chí, các quy định nêu trên là hết sức cần thiết, vì các năm gần đây, việc vi phạm các quy định này có chiều hướng gia tăng, và ảnh hưởng, tác động tiêu cực tới xã hội nói chung, và tới người liên quan nói riêng. Thí dụ gần đây là cuối tháng 4-2016, người dân Hà Nội đã không khỏi hoang mang trước thông tin đăng trên một số tờ báo về việc phát hiện có thủy ngân bay lơ lửng trong không khí. Chỉ căn cứ vào số liệu từ một đại sứ quán cung cấp về chỉ số chất lượng không khí hằng ngày (AQI) đạt mức 388 điểm (mức nguy hiểm) mà các báo này đã so sánh mức độ ô nhiễm ở Hà Nội với thành phố ô nhiễm không khí nặng nhất thế giới là Bắc Kinh (chỉ số AQI: 119 đến 430) và kết luận mức độ ô nhiễm của Hà Nội thậm chí còn cao hơn Bắc Kinh! Thông tin nêu trên lập tức lan truyền trên mạng, gây bấn loạn không nhỏ trong đời sống cư dân, vì thủy ngân là chất cực độc, có thể dễ dàng hấp thụ qua da, các cơ quan hô hấp và tiêu hóa, gây tác hại lên hệ thần kinh, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, làm suy giảm trí nhớ, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Trên một số diễn đàn, nhiều người đã bày tỏ nỗi lo âu, sợ hãi, đồng thời nảy sinh tâm lý không dám đi ra đường. Thậm chí có người còn liên hệ việc mình bị viêm họng, viêm mũi, viêm mắt lâu ngày không khỏi là do tác động từ thủy ngân trong không khí! Có độc giả chia sẻ: “Tôi cảm thấy hoang mang và lo sợ cho những đứa con của tôi, những đứa trẻ sẽ là tương lai sau này, bởi tôi thật sự không biết phải làm gì để có thể bảo vệ được chúng trước những thứ độc ấy, khi mà đến nay ngay cả việc hít thở thôi cũng có thể làm hại đến chúng thì tôi thật sự bất lực, bất lực hoàn toàn”. Tuy nhiên, đây lại là thông tin không chính xác. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) Hoàng Dương Tùng khẳng định, tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội là có, nhưng đài quan trắc của đại sứ quán nọ chỉ đặt ở một địa điểm rồi lấy số liệu để đánh giá cả TP Hà Nội là không chính xác. Ông Hoàng Dương Tùng cho biết, thủy ngân trong không khí là vấn đề mới, có tính toàn cầu, do đó phải xác định ở Hà Nội có hay không, nguyên nhân từ đâu, biện pháp xử lý như thế nào. Việc một số báo đưa tin vội vã, thiếu kiểm chứng và không tham vấn giới chuyên môn cho thấy sự không tôn trọng độc giả, dẫn đến phản ứng cực đoan của cộng đồng.
Trong khi cư dân Hà Nội chưa hết lo lắng trước thông tin không khí có thủy ngân thì tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhiều hộ dân trồng xoài lại rơi vào cảnh lao đao do một số báo đưa tin xoài tại đây đang sử dụng túi bao trái xoài có in chữ “Taiwan” có xuất xứ từ Đài Loan (Trung Quốc) bị nhiễm chất độc hại. Hậu quả là thị trường tiêu thụ xoài sụt giảm, giá xoài rớt xuống chỉ còn một nửa nhưng người trồng vẫn phải chật vật mới tìm được đầu ra, bị thương lái ép giá, thiệt hại kinh tế rất lớn. Những tờ báo đưa thông tin thiếu kiểm chứng này đã không tìm hiểu để biết rằng, kỹ thuật bao trái là biện pháp giúp trái cây không bị tổn thương phần vỏ, giảm tỷ lệ bệnh, giảm tác động của côn trùng và chim, hạn chế lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên cây, nhờ đó trái cây an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Muốn thâm nhập vào thị trường các nước, bao trái là một quy trình bắt buộc. Tuy nhiên, chỉ mới phát hiện việc “lạ” mà phóng viên đã vội đưa tin, gây tâm lý bất an trong dư luận và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế người dân. Và chỉ vài bài báo đưa tin cẩu thả như vậy đã khiến người trồng xoài ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long thiệt hại hàng tỷ đồng. Dù sau đó, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) công bố kết quả kiểm định cho thấy không có hóa chất độc hại trong mẫu túi bao trái xoài mà nông dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã sử dụng, nhưng ai sẽ bù đắp tổn thất mà họ phải gánh chịu? Chưa kể, thông tin bất lợi đăng tải có thể khiến đối tác nước ngoài dừng thu mua xoài, cánh cửa xuất khẩu vừa khơi thông cho người nông dân sẽ bị đóng lại một cách oan uổng...
Những hậu quả, đôi khi đẩy người dân rơi vào thảm cảnh từ thông tin thiếu kiểm chứng, vô trách nhiệm do một số tờ báo gây ra dường như không còn là chuyện “hiếm có khó tìm” trên hệ thống truyền thông. Có thể điểm qua một số sự việc tiêu biểu: Tin mít non nhúng thuốc cho nhanh chín khiến các nhà vườn ở đồng bằng sông Cửu Long rơi vào cảnh lao đao, kiệt quệ; đậu tương gây ung thư, vô sinh làm người dân ở Hải Châu, Hải Hòa, Hải Triều, thị trấn Thịnh Long (Hải Hậu - Nam Định) vốn vẫn trông vào cây đậu tương để “xóa đói giảm nghèo” nay lại có nguy cơ “tái nghèo”; tin hàu nuôi tại vùng đầm Lập An (Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) bị nhiễm chất độc từ lốp cao-su, có thể gây ung thư khiến ngư dân nơi đây cũng bị một phen khốn đốn... Đó là thái độ vô trách nhiệm của một số tờ báo hoàn toàn không cân nhắc hậu quả việc đưa tin. Liệu có phải muốn chạy theo việc tăng view (lượng truy cập) cho nên tình trạng đưa tin ẩu, tin sai, thậm chí đăng tải cả tin phản cảm, nhảm nhí gây hoang mang dư luận có chiều hướng gia tăng, nhất là trên các trang báo điện tử? Không những vậy, những đề tài có tính giật gân, câu khách cũng đã được một số tờ báo triệt để khai thác. Như khoảng 10 năm trước, chỉ căn cứ vào trải nghiệm mang tính cá nhân của một số người từ đó đưa ra những suy luận, gán ghép thiếu căn cứ đã khiến dư luận một phen rúng động vì những câu chuyện mang màu sắc kỳ bí, gây ra nỗi ám ảnh về sự chết chóc, một tờ báo đăng loạt bài “Thánh vật ở sông Tô Lịch”. Cuối năm 2014, loạt bài về vụ “thi thể bị chặt làm ba khúc vứt ven đường” tại TP Hồ Chí Minh được một số báo đăng tải cũng khiến nhiều độc giả kinh sợ. Tuy nhiên, theo Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông các bài viết này đã đưa thông tin không chính xác. Gần đây, hẳn bạn đọc vẫn chưa quên bài “Gái miền Tây và 3 chữ “N” nổi danh thiên hạ” mang nặng tính xúc phạm, miệt thị vùng miền với các bình luận méo mó do một trang báo điện tử đăng tải đã gây phẫn nộ trong cộng đồng. Hay một số tờ báo chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận độc giả đã cho đăng những bài viết bới móc đời tư của người nổi tiếng, triệt để khai thác các vụ án giết người, tai nạn thảm khốc qua việc mô tả tỉ mỉ, chi tiết từ hiện trường, diễn biến đến tình trạng của nạn nhân. Đáng chú ý, trong khi đưa tin về vụ án, thay vì chờ tòa án xét xử, luận tội và kết án, một số nhà báo “hồn nhiên” (?!) suy diễn cảm tính và áp đặt bản án cho người liên quan. Điều này dễ dẫn đến việc đưa tin sai, thiếu khách quan và vi phạm pháp luật. Bức xúc trước các thông tin giật giân, “câu khách” luôn xuất hiện với tần suất dày đặc trên trang chủ một số tờ báo, trang tin điện tử, có độc giả đã thẳng thắn bày tỏ: “Rất mong các cơ quan chức năng hành động quyết liệt để loại bỏ những văn hóa rẻ tiền và độc hại ra khỏi xã hội, để người dân có được cuộc sống yên lành và văn hóa. Những thông tin thất thiệt, thiếu chính xác không chỉ làm nhiều người dân lâm vào cảnh khốn cùng, mà còn khiến cho không ít công chúng, độc giả thất vọng, mất lòng tin vào những người làm báo”. Thiết nghĩ, mỗi người làm báo cần tự vấn trước các ý kiến như vậy của bạn đọc.
Vì những sai phạm trong việc đăng tải thông tin luật pháp nghiêm cấm, một số tờ báo và phóng viên đã phải nhận hình thức xử phạt, như: Phạt tiền, thu hồi thẻ nhà báo, đình bản, thậm chí bị truy tố hình sự,… Hy vọng trước mắt và sau khi Luật Báo chí năm 2016 có hiệu lực, mỗi nhà báo sẽ tiếp tục tự nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp để không chỉ góp phần nâng cao chất lượng báo chí, mà còn lấy lại niềm tin của bạn đọc.
|
| THÀNH NAM |
Những luận điệu "bắn quá khứ để phá tương lai"
Hơn 70 năm đã trôi qua kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, song cứ mỗi dịp kỷ niệm sự kiện lịch sử vĩ đại này, vẫn còn những người với cái nhìn “thầy bói xem voi” thiển cận hoặc vì những mưu đồ đen tối, vẫn cố tình bóp méo sự thật lịch sử.
Lợi dụng “bàn tròn” để “bóp méo”
“Bàn tròn thời cuộc”, “hội thảo chuyên đề”… là cách mà họ tập hợp những người có cái nhìn bất mãn, tiêu cực để lật lại lịch sử qua đôi “kính đen”. Còn nhớ, BBC, tiếng là hãng truyền thông quốc tế có tên tuổi nhưng dịp kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám từng mở cái gọi là “bàn tròn thời cuộc” quy tụ những ý kiến “dị dạng” mà không có quan điểm của một nhà nghiên cứu lịch sử đúng nghĩa tham gia. Họ đòi đổi tên cuộc cách mạng, cho rằng không có Cách mạng Tháng Tám mà chỉ có khởi nghĩa tháng Tám vì nó chỉ diễn ra trong mấy ngày! Họ cho rằng không có chuyện Việt Minh, Đảng Cộng sản làm cách mạng mà chỉ có người dân phẫn uất vùng lên giành chính quyền. Trương Tuấn Nhân, một người xưng là giáo sư ở nước ngoài cho rằng: “Không có “đánh đấm” gì cả vì cuộc cách mạng xảy ra sau lúc quân Nhật đã có lệnh bỏ súng đầu hàng. Việt Minh lợi dụng khoảng trống quyền lực để nắm lấy chính quyền… "Hai mươi triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy” cũng chỉ là điều tưởng tượng”!
Họ khuyến nghị, “không nên tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật giành tự do, độc lập cho đất nước” vì trong thời điểm này các đảng phái khác như Đại Việt, Việt Quốc, Việt Cách... cũng có hành động tương tự, buộc trao chính quyền ở một số địa phương.
Người ta còn nhào nặn, bóp méo lịch sử khi lập luận: Chính quyền Bảo Đại-Trần Trọng Kim đã tuyên bố độc lập từ trước, đã “làm được nhiều việc” để đặt nền móng xây dựng “một chính thể dân chủ lâu dài cho đất nước” song “tất cả tan tành chỉ vì… Cách mạng Tháng Tám”!
Ảnh minh họa.
Những quan điểm lệch lạc trên đã bị giới nghiên cứu sử học và báo chí, dư luận phản bác nhiều năm nay. Báo Quân đội nhân dân cũng có các bài viết phê phán. Cho nên, trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh một số luận điểm của chính các nhà nghiên cứu nước ngoài và trong nước để làm sáng tỏ sự thật.
Trước hết, cần khẳng định rằng, không ít quan điểm, phân tích của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã bị nhào nặn, bóp méo để xuyên tạc bản chất của Cách mạng Tháng Tám. Philippe Devillers, một nhà báo Pháp chuyên viết về các vấn đề chiến tranh đồng thời là một nhà sử học, trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ năm 1940 đến 1952” phát hành tại Pháp năm 1952 đã xem thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là “sự ăn may”. Khi đó, ông nhận định: "Cuộc cách mạng không phải là sự bùng nổ. Nó là kết quả cuối cùng của sự thấm lọc, điểm nút lô-gích của sự thâm nhập Việt Minh vào tất cả các lĩnh vực quốc gia. Chỉ có một sự tụ hội kỳ lạ các điều kiện mới khiến cho cách mạng thực hiện được”. Tuy nhiên, sau này, trong cuốn sách “Paris - Sài Gòn - Hà Nội - Tài liệu lưu trữ của cuộc chiến tranh 1944-1947” xuất bản năm 1998, ông đã có những nhận định mới, đúng hơn về Cách mạng Tháng Tám. Thế nhưng, dường như những quan điểm tiến bộ của ông sau này lại không được những “nhà nghiên cứu” trích dẫn, khi mà họ chỉ cố tình xuyên tạc lịch sử, bất chấp sự thật.
Theo GS, TS Phạm Hồng Tung, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, vấn đề “khoảng trống quyền lực” được nhà sử học người Na Uy Stein Tonnesson nêu ra lần đầu tiên trong luận án Tiến sĩ của ông, và được in thành sách năm 1991. Tonnesson luận giải như sau: “Khoảng trống quyền lực có thể được mô tả cụ thể hơn là sự vắng mặt của người Pháp và quân Đồng Minh, sự thiếu quyết đoán của người Nhật trong việc duy trì sự cai trị cho đến khi quân Đồng Minh tới, và sự bất lực của giới quan lại cùng chính quyền của họ trong việc tự phục vụ quyền lợi của họ”. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, Tonnesson đã tuyên bố rõ rằng: “Trong khi góp phần chỉ ra vai trò đặc biệt quan trọng của khoảng trống quyền lực ở thời điểm tháng 8-1945 để giải thích cuộc Cách mạng Tháng Tám, cuốn sách này không cho rằng cuộc cách mạng đó là "tình cờ”, "ngẫu nhiên" hoặc "ăn may”.
Giáo sư William J.Duiker, nhà sử học nổi tiếng của Mỹ, người đầu tiên đưa ra ý tưởng về sự tồn tại của “khoảng trống chính trị”, viết: “Cần phải nhớ rằng, cuộc Cách mạng Tháng Tám đã đạt được thành tựu vĩ đại như vậy và thắng lợi của những người Cộng sản là có sự đóng góp ở mức độ không nhỏ của những hoàn cảnh ngẫu nhiên”; “chỉ riêng các điều kiện khách quan thì không làm nên một cuộc cách mạng, và ở đây công lao thuộc về những người Cộng sản. Họ đã có thể chớp lấy thời cơ được mở ra vô cùng thuận lợi vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh. Ở các xứ thuộc địa khác, khoảng trống có thể được lấp đầy bởi lực lượng dân tộc chủ nghĩa không Cộng sản. Nhưng ở Việt Nam, các phần tử dân tộc chủ nghĩa đã không thể đứng lên chấp nhận thách thức. Chỉ có Đảng Cộng sản Đông Dương sở hữu ý thức về sự kịp thời và thấu hiểu được sự tinh tế có tính chiến lược của hoàn cảnh để vùng lên đúng lúc. Điểm cuối cùng này mới là quan trọng”.
Một nhà sử học Pháp là Alain Ruscio, người đã có hơn 15 tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam sau hơn 30 năm nghiên cứu cũng từng khẳng định: “Chiến thắng năm 1945 của Việt Nam không chỉ là sự kiện gây bất ngờ, mà đó cũng là sự tất yếu mang tính lô-gích trong lịch sử phong trào đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam là dân tộc đầu tiên trong số các dân tộc trên thế giới bị thực dân Pháp đô hộ đã thành công trong cuộc kháng chiến của mình”.
Theo ông Nguyễn Hữu Thái, một nhà nghiên cứu ở Ca-na-đa, sau sự kiện 30-4-1975, nhiều nhà nghiên cứu Mỹ bắt đầu tìm hiểu về Cách mạng Việt Nam, trong đó họ chú ý đào sâu về nguồn gốc và động lực Cách mạng Tháng Tám. Trong cuốn sách đồ sộ 700 trang mang tên “Ho Chi Minh - A Life (Hồ Chí Minh - Một cuộc đời) xuất bản năm 2000, Giáo sư William J.Duiker đã trình bày các nguyên nhân dẫn đến Cách mạng Tháng Tám một cách hết sức thực tế: “Rõ ràng là nạn đói ở miền Bắc và Trung Việt Nam, kéo dài dai dẳng từ mùa đông trước, đã tạo ra một tình thế thuận lợi cho các lực lượng cách mạng… Đói kém tràn lan đã tạo ra cơ hội ngàn vàng cho Việt Minh. Họ tiếp tục khuyến khích nông dân đang bị đói, ở những khu vực mà họ đã giải phóng, phá các kho thóc công để chia cho dân nghèo…”. Chỉ riêng phân tích trên đã cho thấy vai trò của Việt Minh trong tổ chức, tập hợp lực lượng từ lòng dân, không phải là một sự ngẫu nhiên đơn giản
TS Trần Tăng Khởi trong bài viết “Bàn thêm về thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám” đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng gần đây đã khẳng định: Không có “khoảng trống quyền lực” trong Cách mạng Tháng Tám. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân tất yếu nhất đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. Cơ hội đến mà không biết tận dụng thì cũng không thể giành được mà yêu cầu phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Đó là yếu tố khách quan, nó tác động đến tất cả các nước ở khu vực bị phát-xít Nhật chiếm đóng như Trung Quốc, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a… Thế nhưng, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng được cơ hội đó. Vấn đề đặt ra là, cơ hội kết hợp với cái gì để tạo ra thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Đó chính là nội lực mà Đảng ta đã chuẩn bị từ năm 1941 đến 1945. Đó cũng là cả một quá trình tôi luyện của một tổ chức cách mạng tuy mới tồn tại được 15 năm, nhưng đã kinh qua bao nhiêu thử thách, trong đó có những bài học thất bại sâu sắc của Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) và Nam Kỳ khởi nghĩa (1940), lần lượt cả bốn Tổng Bí thư thời kỳ đầu của Đảng từ Trần Phú đến Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập và Nguyễn Văn Cừ đều hy sinh cùng biết bao đồng chí khác.
Cảnh giác trước sự xuyên tạc lịch sử
Thực chất của những luận điệu chống phá mà phần đầu bài viết đã nêu chính là nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta, phủ nhận con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Không phải ngẫu nhiên mà những người đưa ra luận điệu, dù không phải là nhà nghiên cứu lịch sử nhưng cứ đến dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám lại “nhiệt tình” đưa ra những cái gọi là “nghiên cứu lịch sử” đến vậy. Cũng không phải ngẫu nhiên mà họ thường dẫn lại lời ông Trần Trọng Kim rằng sau khi giành độc lập có thể thỏa hiệp, thực hiện đúng các hiệp ước với Pháp thì ngày nay Việt Nam đã giàu mạnh chứ không cần toàn quốc kháng chiến. Họ phê phán, sai lầm chỉ có thể sửa sai bằng cách đưa cả nước vào cơn máu lửa.
Từ đó, họ quy kết, Cách mạng Tháng Tám dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành một sự lựa chọn sai lầm của lịch sử dân tộc, khiến cho đất nước không thể thịnh vượng. Họ cố tình xâu chuỗi các sự kiện kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ khác là sai lầm để rồi gọi ngày Quốc khánh 2-9-1945 là một trong những ngày “quốc hận” của dân tộc vì từ cuộc cách mạng này, Đảng đã dẫn cả nước “lầm đường”. Âm mưu sâu xa của họ là kêu gọi thế hệ hôm nay phải xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, phải lựa chọn con đường tư bản chủ nghĩa.
Nhưng dù có lấp liếm và được ngụy trang dưới những vỏ bọc hào nhoáng đến đâu thì những luận điệu ấy cũng không thể thay đổi được bản chất của lịch sử và không che giấu được những mưu đồ đen tối. Dù cuộc cách mạng đã lùi xa hơn 70 năm nhưng những người Việt Nam chân chính luôn trân trọng thành quả cách mạng vĩ đại của cha anh và từ đó rút ra những bài học bổ ích trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước, đồng thời luôn cảnh giác với những mưu đồ nhìn lịch sử qua “kính đen” để xuyên tạc, bóp méo.
NGUYỄN VĂN MINH
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016
Hoàng Xuân Vinh thuộc Top 10 VĐV thành tích cao Olympic 2016
Xạ thủ 41 tuổi có tên trong bảng vị trí các VĐV đoạt nhiều huy chương hàng đầu tại Thế vận hội Rio sau sáu ngày tranh tài, nhờ một HC vàng và một HC bạc.
Hoàng Xuân Vinh giúp thể thao Việt Nam có kỳ Olympic thành công nhất trong lịch sử, khi anh giành HC vàng nội dung 10m súng ngắn hơi với kỷ lục Thế vận hội, và sau đó có thêm HC bạc 50m súng ngắn. Trước đó, Việt Nam mới chỉ có tất cả hai tấm HC bạc của môn taekwondo và cử tạ.
Hoàng Xuân Vinh là VĐV Việt Nam đầu tiên trong lịch sử đoạt một HC vàng và một HC bạc ở cùng một kỳ Olympic 2016.
|
Kỳ tích lịch sử giúp Xuân Vinh đứng thứ 10 bảng thành tích cá nhân của Olympic Rio, tính theo riêng số lượng HC vàng tới hết ngày thi đấu 11/8. Anh còn giữ một vị trí ở nhóm thứ sáu trong bảng thành tích theo tống số huy chương.
Xạ thủ của đoàn quân đội cũng có tên trong bảng vàng các VĐV lập kỷ lục Olympic hoặc thế giới tại Đại hội lần này.
VĐV dẫn đầu bảng thành tích huy chương tính đến sáng 12/8 là Micheal Phelps với bốn HC vàng. Tiếp theo là hai nữ kình ngư, gồm VĐV bơi 19 tuổi Katie Ledecky của Mỹ (ba HC vàng, một HC bạc) và Katinka Hozzsu của Hungary (ba HC vàng).
Xuân Vinh nằm ở top đầu bảng vàng các VĐV dự Olympic 2016. Bảng cập nhật tính đến sáng 12/8 theo giờ Hà Nội.
|
Nguyễn Phát
Liên kết nhưng không thương mại hóa, tư nhân hóa báo chí
Một trong các điểm mới của Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017) là cho phép các cơ quan báo chí được mở rộng liên kết hoạt động. Điểm mới này được đánh giá là cần thiết, phù hợp với bối cảnh những năm gần đây hoạt động báo chí nảy sinh một số vấn đề bất cập, đòi hỏi có sự điều chỉnh nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí, qua đó, góp phần xây dựng một nền báo chí phát triển hiện đại, lành mạnh.
|
Báo chí là một lĩnh vực hoạt động quan trọng của xã hội, thể hiện trình độ và bước tiến của một xã hội hiện đại, dân chủ. Và khi mà quan hệ giữa các lĩnh vực hoạt động của xã hội ngày càng phong phú, sinh động, đa dạng,... và có những mối liên hệ tương hỗ chặt chẽ, thì việc hình thành những cơ chế mới và tổ chức, quản lý những mối quan hệ đó một cách tốt nhất nhằm làm cho báo chí phát triển toàn diện là việc làm cần thiết, và nổi lên trong đó là vấn đề liên kết hoạt động báo chí. Về thực chất, liên kết hoạt động báo chí là mở rộng đối tượng được phép có các hoạt động báo chí, và không chỉ là các cơ quan nhà nước như Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định. Thực tế cho thấy nhiều năm gần đây, liên kết hoạt động báo chí đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Và vì không được luật pháp thừa nhận, nên một số cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tìm cách “lách luật” để từ đó cho ra đời một số sản phẩm báo chí như: trang thông tin điện tử tổng hợp, các ấn phẩm phụ, chương trình phát thanh, truyền hình liên kết (thường là chương trình có tính chất giải trí, mua bản quyền từ nước ngoài). Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy không phải là sản phẩm báo chí nào ra đời từ cách thức này cũng bảo đảm chất lượng, thậm chí một số sản phẩm còn kém chất lượng với lỗi sai phạm nghiêm trọng.
Một trong các sản phẩm ra đời từ hình thức “lách luật” là các trang tin điện tử tổng hợp. Được biết, cả nước hiện có khoảng 1.610 trang thông tin điện tử tổng hợp, trong đó chỉ có 251 trang thông tin điện tử của các cơ quan báo chí, còn lại là trang tin “núp bóng” những tờ báo có cơ quan chủ quản hợp pháp. Trong số này, không ít trang tin đăng tải tin, bài có nội dung không phù hợp với tôn chỉ, mục đích cũng như đối tượng độc giả của tờ báo mà họ “núp bóng”. Một số trang tin chủ yếu có nội dung “cướp, giết, hiếp” giật gân, “câu” bạn đọc, bất chấp yêu cầu chân thực, trung thực cũng như sự chính xác của thông tin và ảnh hưởng tiêu cực của thông tin dạng này tới xã hội. Từ sự tồn tại của các trang tin này có thể đặt ra câu hỏi: dường như các trang tin này không chịu sự quản lý về mặt nội dung của tờ báo “núp bóng”, mà sự quản lý chỉ có trên danh nghĩa, các trang tin gần như tự do đưa tin, bài theo định hướng, mục đích của riêng mình? Phải chăng còn có sự “thỏa thuận ngầm” giữa nơi quản lý trang tin và tờ báo mà họ “núp bóng” trong kiểm duyệt nội dung? Nếu cơ quan chủ quản hợp pháp có trách nhiệm, biên tập bài vở đúng tôn chỉ, mục đích của tờ báo thì chắc chắn tin bài sai phạm không thể xuất hiện trên trang mạng. Hơn nữa, tốc độ đăng tải tin bài của trang mạng thường rất nhanh và cập nhật. Để chạy đua với thời gian, chạy đua với các trang mạng khác, người phụ trách trang mạng rất dễ bỏ qua khâu kiểm chứng thông tin, bỏ qua khâu biên tập và làm cho chất lượng trang tin điện tử chệch hướng, không còn đại diện cho tờ báo mà nó đã “núp bóng”.
Một vấn đề bất cập khác là việc một số cơ quan báo chí cho ra đời nhiều ấn phẩm phụ nhưng lại chưa có sự quản lý, giám sát hiệu quả, nên chất lượng ấn phẩm không bảo đảm. Sự dễ dãi cộng với lợi ích về kinh tế đã khiến một số cơ quan báo chí chỉ vì cái lợi trước mắt mà cho ra đời tràn lan các ấn phẩm phụ. Chưa kể, có trường hợp ấn phẩm phụ còn được “bán” lại cho đơn vị khác chịu trách nhiệm xuất bản và khi đó, cơ quan chủ quản gần như không còn kiểm soát được nội dung, như “đem con bỏ chợ”, khiến ấn phẩm phụ đi chệch tôn chỉ, mục đích, thậm chí còn để xảy ra sai phạm trong thời gian dài. Giống như một số trang tin điện tử, nhiều ấn phẩm phụ đi theo xu hướng thu hút độc giả bằng những chiêu trò thiếu lành mạnh, đưa thông tin thiếu kiểm chứng, đậm tính mê tín dị đoan, những sự việc có tính kỳ bí, hoặc sa đà vào các tin, bài có nội dung đề cập án mạng dã man... Thậm chí, một số ấn phẩm phụ còn có bài báo miêu tả tỉ mỉ những hành động giết người rùng rợn, đăng tải đậm đặc thông tin về tình dục phản cảm để thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu tầm thường của một bộ phận độc giả. Bên cạnh nguyên nhân từ sự buông lỏng quản lý, giảm sát, còn có nguyên nhân là từ sự thiếu kinh nghiệm và lương tâm nghề nghiệp trong việc phát triển ấn phẩm báo chí khiến sai phạm xảy ra tương đối nhiều. Cho nên, đã có ấn phẩm chất lượng kém đã bị tạm thời đình bản, thậm chí bị rút giấy phép hoạt động vĩnh viễn. Điển hình như mới đây một tờ báo đã xin tự đình bản ấn phẩm phụ vì đăng tải một số bài viết có nội dung không phù hợp, gây phương hại đến lợi ích quốc gia hoặc mất đoàn kết dân tộc và bị cơ quan chức năng xử phạt. Năm 2015, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng đã đình bản tạm thời hai ấn phẩm phụ của một báo khác trong thời gian ba tháng do không hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích. Trước đó, năm 2014, Bộ này cũng thu hồi giấy phép xuất bản hai ấn phẩm phụ của hai tờ báo cũng với lý do như trên...
Không chỉ với báo in hay báo điện tử, truyền hình cũng là loại hình báo chí có sự liên kết hoạt động tương đối rõ nét và đa dạng. Những năm gần đây, sự ra đời hàng loạt chương trình truyền hình liên kết, chủ yếu thuộc lĩnh vực giải trí, như các game show, các cuộc thi có fomat (định dạng) nước ngoài không còn xa lạ với công chúng bởi mức độ phủ sóng khá lớn. Thực chất của nhiều chương trình dạng này là đối tác mà nhà đài liên kết chịu trách nhiệm hoàn toàn quá trình sản xuất, nhà đài chỉ có trách nhiệm phát sóng, nên khâu biên tập đôi khi thiếu cẩn trọng hoặc do quá “tin tưởng” vào đối tác mà có khi xem nhẹ khâu kiểm duyệt trước khi lên sóng. Trong năm 2015, qua khảo sát, kiểm tra, Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) đã phát hiện một số sai phạm trong các hoạt động liên kết giữa một số đài truyền hình và đối tác. Sai phạm này thường trải đều ở cả quy trình, thủ tục đăng ký liên kết, nội dung thông tin lẫn hoạt động quảng cáo đi kèm chương trình, nhưng sai phạm chủ yếu vẫn là thông tin sai sự thật; sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh phản cảm, không phù hợp thuần phong, mỹ tục Việt Nam. Hậu quả là có chương trình đã bị ngừng phát sóng và một số chương trình mới thì không được cấp phép.
Trong bối cảnh thực tiễn hoạt động báo chí manh nha có sự liên kết và cho ra đời khá nhiều sản phẩm kém chất lượng như vậy, Luật Báo chí năm 2016 đã đề cập trực diện, đã có những điều chỉnh, nhằm đưa hoạt động báo chí đi vào thực chất hơn. Cụ thể, Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ, các cơ quan báo chí được phép liên kết trong hoạt động báo chí với cơ quan báo chí khác, với pháp nhân, cá nhân có liên quan phù hợp lĩnh vực liên kết... Các lĩnh vực được liên kết được quy định chung cho các chương trình, kênh phát thanh, truyền hình cũng như sản phẩm báo in, báo điện tử, cụ thể là các lĩnh vực: khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, thể thao, giải trí, quảng cáo, an sinh xã hội. Như vậy, Luật Báo chí năm 2016 đã cởi mở hơn khi đưa ra những tiêu chí luật pháp cho phép mở rộng liên kết trong hoạt động báo chí. Thiết nghĩ, sự mở rộng này là cần thiết, góp phần tạo môi trường công bằng, rộng mở và tạo điều kiện giúp các loại hình báo chí phát triển, đồng thời huy động thêm nguồn lực xã hội để phát triển báo chí. Khi các liên kết đó được vận hành một cách lành mạnh, có hiệu quả thì đối tượng được hưởng lợi chính là công chúng, vì họ được tiếp cận với nhiều sản phẩm báo chí có chất lượng. Hơn nữa, mở rộng liên kết trong hoạt động báo chí sẽ hạn chế hiện tượng “lách luật” như đề cập ở trên, và các hoạt động có tính chất chụp giật. Có thể nói, việc luật hóa đã tạo ra hành lang pháp lý đúng đắn, hình thành cơ sở chấn chỉnh hoạt động liên kết trong hoạt động báo chí. Cần lưu ý là Luật Báo chí năm 2016 còn đề cao tính chủ động, sự tự chịu trách nhiệm của cơ quan báo chí trong hoạt động liên kết bằng quy định cụ thể: “Cơ quan báo chí được chủ động thực hiện, chịu trách nhiệm mà không phải xin phép cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, nhằm cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan báo chí”. Điều này buộc cơ quan báo chí phải quản lý, kiểm soát tốt hơn hoạt động báo chí của cơ quan mình, thí dụ như việc cho “mượn” tên hay xuất bản ấn phẩm mới, tránh tình trạng “đem con bỏ chợ”.
Việc cho phép liên kết trong hoạt động báo chí cho thấy sự đổi mới kịp thời, đúng đắn của Đảng và Nhà nước với lĩnh vực báo chí. Tuy nhiên, vấn đề nhất quán vẫn là không thương mại hóa, không tư nhân hóa báo chí (tư nhân chỉ tham gia liên kết, không được chi phối hoạt động báo chí), không để tư nhân núp bóng, không để lợi ích nhóm chi phối,... Sự nhất quán đó được quyết định bởi bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam, như khoản 1 Điều 4 (Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí) khẳng định: “Báo chí ở nước CHXHCN Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân”. Vì thế, cần nâng cao chất lượng các sản phẩm báo chí, bên cạnh sự ủng hộ, tạo điều kiện của các cơ quan chức năng, mỗi người làm báo cần tự ý thức về vai trò, trách nhiệm, từ đó tự giác trau dồi đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng và nghiệp vụ, rèn luyện bản lĩnh, nắm chắc tay bút để sáng tạo nên những tác phẩm báo chí có giá trị cao.
|
| KHÁNH MINH |