Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2024

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG VÀNG

             Ngày 10/5/2024, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo 213/TB- VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái tại cuộc họp về các giải pháp quản lý thị trường vàng trong thời gian tới, trong đó có nội dung: “Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với thị trường vàng theo đúng quy định pháp luật; quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng miếng, kịp thời chấn chỉnh và xử lý nghiêm các vi phạm trong sản xuất, kinh doanh vàng miếng, nhất là các hành vi vi phạm pháp luật, buôn lậu, thẩm lậu, trục lợi, đầu cơ, thao túng, đẩy giá, cạnh tranh không đúng quy định...; trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật kịp thời chuyển ngay hồ sơ đến Bộ Công an và các cơ quan chức năng để xử lý theo quy định”. Trong thời gian qua, lực lượng Quản lý thị trường nói chung và Cục Quản lý thị trường thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã tích cực thực hiện chỉ đạo của đ/c Phó thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường biện pháp quản lý thị trường vàng; thực hiện nghiêm các biện pháp nghiệp vụ giám sát chặt chẽ liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn. Tính từ đầu năm đến ngày 14/5/2024, Cục Quản lý thị trường thành phố Hồ Chí Minh đã kiểm tra 35 cơ sở kinh doanh vàng trên địa bàn, phát hiện và xử lý 21 vụ vi phạm, tạm giữ 719 đơn vị sản phẩm các mặt hàng là nhẫn, dây chuyền, lắc đeo tay, mặt dây chuyền không có hóa đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc xuất xứ (có một số mặt hàng có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu) với tổng giá trị hơn 1,3 tỷ đồng. Việc kiểm tra nhằm kiểm soát tình hình mua bán, kinh doanh trong bối cảnh giá vàng tăng cao, nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, tổ chức phản động “Việt Tân” đã lợi dụng điều này để xuyên tạc rằng “Cục Quản lý thị trường thành phố Hồ Chí Minh đã ăn cướp trắng trợn đối với 35 cơ sở kinh doanh vàng trên, việc yêu cầu chứng minh nguồn gốc, xuất xứ mặt hàng vàng là đánh đố dân và ngụy biện cho âm mưu chiếm đoạt tài sản của dân”. Đây là những luận điệu xuyên tạc, bởi vì:

Thứ nhất, tại Điều 8 Pháp lệnh Quản lý thị trường năm 2016 có quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng Quản lý thị trường, theo đó lực lượng Quản lý thị trường có chức năng kiểm tra việc chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi kiểm tra theo quy định; xử lý vi phạm hành chính; thu thập tài liệu, chứng cứ, lấy mẫu sản phẩm hàng hóa, tang vật, phương tiện có dấu hiệu vi phạm, trưng cầu giám định, kiểm nghiệm mẫu vật là hàng hóa, tài liệu, giấy tờ, vật chứng liên quan đến vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân. Như vậy, việc kiểm tra các cơ sở kinh doanh vàng là đúng theo chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Quản lý thị trường.

Thứ hai, việc yêu cầu các cơ sở kinh doanh vàng chứng minh nguồn gốc hàng hóa không phải là một hành động "đánh đố dân", đây là một biện pháp để đảm bảo mặt hàng vàng được bán ra thị trường là hợp pháp và rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Thứ ba, lập luận cho rằng việc yêu cầu chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của mặt hàng vàng là "ngụy biện cho âm mưu chiếm đoạt tài sản của dân" là thiếu căn cứ. Thay vào đó, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với thị trường vàng góp phần ngăn chặn các hoạt động buôn lậu vàng, từ đó bảo vệ tài sản và quyền lợi của người tiêu dùng. Việc tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở kinh doanh vàng trong thời gian vừa qua đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thị trường vàng, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, tuyên truyền, răn đe các trường hợp vi phạm.

            Vì vậy, mỗi người dân khi sử dụng mạng xã hội đặc biệt là Facebook, Tiktok,...cần phải nâng cao cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các tổ chức phản động để có cái nhìn đúng đắn về hoạt động quản lý đối với các cơ sở kinh doanh vàng nói riêng và hoạt động quản lý thị trường nói chung. Chủ động nhận biết, phòng ngừa, đấu tranh phản bác làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước./.

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG THỰC HIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CẦU

             Chính sách đất đai từ trước đến nay được Đảng, Nhà nước ta luôn xác định là một vấn đề hết sức nhạy cảm, phức tạp. Việc thực hiện các chủ trương, dự án phát triển kinh tế, xã hội liên quan đất đai sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của một bộ phận quần chúng nhân dân liên quan đến các vấn đề xã hội (như: thiếu đất ở, đất sản xuất, thiếu việc làm, tâm lý bỡ ngỡ khi thay đổi di chuyển đến chổ ở mới,...) dẫn đến tình hình tranh chấp, khiếu kiện tiếp tục diễn biến phức tạp, gia tăng việc phát sinh các vụ việc mới và tái phát đối với những vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm; đặc biệt là khiếu kiện về nguồn gốc đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng... Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị vẫn tiếp tục gia tăng lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của ta để gây hoài nghi, kích động tập trung khiếu kiện đông người, tiến hành các hoạt động chống đối, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Phú Yên mặc dù chưa phát sinh “điểm nóng” phức tạp liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện về đất đai khi triển khai thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội nhưng vẫn xảy ra không ít vụ việc có tính chất khiếu kiện kéo dài, vượt cấp; một số hộ dân bị kẻ xấu lợi dụng xúi dục, kích động gây cản trở, chống đối chính quyền, không chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng phục vụ phát triển kinh tế, gây mất an ninh, trật tự tại địa bàn trong thời gian dài.

Tại địa bàn thị xã Sông Cầu, Ban Thường vụ Thị ủy đã ban hành Nghị quyết số 11-CT/TU, ngày 21/12/2021 về tăng cường công tác dân vận khi Nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện các Dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã để lãnh đạo, chỉ đạo toàn hệ thống chính trị địa phương; đồng thời UBND thị xã cũng chủ động cụ thể hóa ban hành kế hoạch triển khai thực hiện, tổ chức thực hiện tạo cơ sở pháp lý cho hệ thống chính trị và địa phương thực hiện tốt công tác vận động, tuyên truyền người dân địa phương khi Nhà nước thu hồi đất để triển khai các Dự án kinh tế – xã hội. Qua đó, các tổ chức chính trị - xã hội từ thị xã đến cấp xã và cấp ủy, chính quyền địa phương đã tích cực phối hợp nhiều hình thức tuyên truyền (tuyên truyền tập trung, kết hợp tuyên truyền cá biệt) đối với các tổ chức, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện Dự án; đã tổ chức vận động hàng trăm hộ dân có đất bị ảnh hưởng từ các Dự án chấp hành việc thu hồi đã giao mặt bằng cho Nhà nước khi có quyết định thu hồi và tự nguyện tháo dỡ công trình xây dựng sai phạm để bàn giao đúng tiến độ theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các Dự án, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội của địa phương phát triển đi lên.

            Trong thời gian đến, công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện các Dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Thị xã vẫn còn tiềm ẩn phức tạp, các phần tử xấu tiếp tục núp bóng dưới nhiều hình thức để tìm mọi cách chống phá chủ trương, chính sách đúng đắn này của Đảng, Nhà nước ta. Chúng tiếp tục lợi dụng việc tranh chấp, khiếu kiện của người dân với chính quyền hòng lừa gạt, lôi kéo người dân gây áp lực, cản trở, chống đối chính quyền trong giải quyết các vấn đề liên quan chính sách đất đai để hoạt động kích động chống phá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, mọi người dân chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện rõ bộ mặt xấu của chúng, toàn hệ thống chính trị và xã hội cần quan tâm quyết liệt nhiều hơn nữa trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật liên quan chính sách đất đai cho người dân trên địa bàn; trong đó lưu ý tuyên truyền, nâng cao nhận thức, vạch rõ âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, bọn tội phạm lợi dụng tranh chấp, khiếu kiện liên quan lĩnh vực này để xúi giục, kích động chống phá chính quyền, giúp họ nhận biết và tự phòng tránh, không vi phạm pháp luật...

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ; TRỪ ĐIỂM, PHỤC HỒI ĐIỂM GIÁY PHÉP LÁI XE

 

Việt Nam là một quốc gia điển hình ở khu vực và trên thế giới về sử dụng xe mô tô, xe gắn máy khi chiếm khoảng 95% tổng số xe cơ giới. Đây là loại phương tiện đi lại được nhiều người dân lựa chọn bởi dễ sử dụng, khả năng cơ động và giá thành hợp lý. Bên cạnh những lợi ích mà xe mô tô, xe gắn máy mang lại thì hiện nay, tình hình trật tự an toàn giao thông đang có nhiều diễn biến phức tạp, tình trạng vi phạm, coi thường pháp luật khi tham gia giao thông và các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực giao thông đường bộ vẫn còn diễn ra phổ biến.

Với thực trạng vi phạm pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ, Bộ Công an đã đề xuất một số hành vi vi phạm được nêu tại Dự thảo Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm Giấy phép lái xe (GPLX).

Theo đó, Điều 30 của Dự thảo nêu rõ chế tài xử phạt hành vi sản xuất, lắp ráp trái phép phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; sản xuất, bán biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trái phép như sau:

- Phạt tiền từ 10 - 12 triệu đồng đối với cá nhân, từ 20 - 24 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi bán biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không phải là biển số do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sản xuất hoặc không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép.

- Phạt tiền từ 30 - 35 triệu đồng đối với cá nhân, từ 60 - 70 triệu đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi sản xuất biển số trái phép hoặc sản xuất, lắp ráp trái phép phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.

Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm nêu trên còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu biển số, phương tiện sản xuất, lắp ráp trái phép. Đồng thời các cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số tiền thu lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính.

Dự thảo Nghị định cũng quy định việc trừ điểm GPLX. Đây là một điểm mới, phù hợp với thực tiễn, sự phát triển của đất nước. Dự thảo Nghị định quy định việc trừ điểm GPLX không phải là hình thức xử phạt vi phạm hành chính. Có tổng cộng 189 hành vi, nhóm hành vi vi phạm bị trừ điểm GPLX. Hành vi vi phạm đã bị trừ điểm GPLX thì không áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng GPLX. Quy định trừ điểm GPLX vừa mang tính chất răn đe, vừa mang tính chất giáo dục, động viên chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Khi GPLX chưa bị trừ hết điểm, người lái xe vẫn tiếp tục được điều khiển phương tiện tham gia giao thông, không ảnh hưởng đến hoạt động tham gia giao thông, hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân. Quy định này thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, người dân cần chú ý đến số điểm còn lại của GPLX và 28 hành vi, nhóm hành vi bị trừ toàn bộ số điểm (12 điểm) của GPLX (khi bị trừ hết điểm của GPLX thì người có GPLX không được tham gia điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo GPLX đó).

Dự thảo Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ; trừ điểm, phục hồi điểm Giấy phép lái xe nhằm thực hiện Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Những nội dung đề xuất của Dự thảo là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý trật tự, an toàn giao thông đường bộ tại Việt Nam. Qua đó góp phần giảm thiểu tai nạn, ùn tắc giao thông, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

 

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2024

TỪ HÌNH ẢNH CÂY TRE TRUYỀN THỐNG ĐẾN ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO ĐẶC BIỆT

 Đường lối “Ngoại giao cây tre” được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc đến lần đầu tiên tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29, diễn ra từ ngày 22 đến ngày 26 tháng 8 năm 2016 và thực sự trở thành đường lối ngoại giao đặc trưng, nổi bật của Việt Nam kể từ Hội nghị Đối ngoại toàn quốc diễn ra ngày 14 tháng 12 năm 2021. Hiện nay, “Ngoại giao cây tre” là thuật ngữ phổ biến khi nhắc đến nền ngoại giao Việt Nam, thể hiện rõ sự mạnh mẽ, tính linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên cường của đất nước, con người Việt Nam thông qua hình ảnh ẩn dụ cây tre: “Gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.


Từ xa xưa, cây tre đã là người bạn thân thiết trong đời sống của người Việt. Tre có mặt ở khắp mọi miền đất nước. Về cấu tạo khoa học, tre thuộc loài cây thân cỏ có cấu trúc thân khá đặc biệt. Rễ tre là loại rễ chùm và mọc ra từ thân ngầm của tre giúp hút chất dinh dưỡng nuôi thân. Số lượng rễ có thể biến đổi theo điều kiện đất và kích thước, tuổi của cây tre. Thân ngầm đặc, thường nằm trong đất, là cơ quan phát rễ, có chức năng giữ cho cây đứng vững và cũng là cơ quan sinh sản của cây. Trên thân ngầm là thân chính, có nhiều lóng rỗng và đốt đặc. Mỗi lóng tre dài khoảng 40 đến 60cm. Tre là loài cực kỳ vững chãi trước mưa giông, bão lũ. Ở các làng quê Việt Nam vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước dày đặc những luỹ tre làng. Các lũy tre trồng dọc theo bờ sông, rễ đan vào nhau có tác dụng hạn chế xói lở đất, giảm tốc độ của dòng nước lũ đổ vào làng. Nếu có giông bão thì lũy tre làng lại làm nhiệm vụ giảm tốc dòng gió xoáy, tre vươn cao hơn các nóc nhà, thân tre dẻo dai, uốn lượn, che chở cho những nếp nhà tranh, mái lá đơn sơ.

Trong tâm thức của người Việt, cây tre là hiện thân của thời kỳ lập quốc, gắn liền với tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam, tiêu biểu phải kể đến truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân. Như vậy, cây tre đã xuất hiện và gắn bó với người Việt từ thời cổ đại hàng nghìn năm trước Công nguyên. Theo dòng lịch sử, tre đánh giặc, gìn giữ quê hương “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”. Tre mọc thành cụm, thành lũy tượng trưng cho tính cộng đồng, lũy tre làng bền chặt như sự đoàn kết, keo sơn, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc ta. Và khi tre già măng mọc lại hàm chứa biểu trưng cho tính truyền thống, kế thừa tiếp nối của các thế hệ người Việt.

          Ngay từ những ngày đầu khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng tới đường lối ngoại giao của Việt Nam với nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, mục tiêu là phải đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Qua hoạt động và chính sách đối ngoại, Người muốn gửi đến các nước trên thế giới thông điệp khẳng định: Việt Nam là một nước độc lập, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị với các nước. Mặt khác, Người kiên quyết chống những hành động nóng vội, ảo tưởng, trông chờ vào sự giúp đỡ của bên ngoài, Người yêu cầu ngành ngoại giao phải luôn luôn khôn khéo, tỉnh táo để có những đối sách thích hợp đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc trước mắt và lâu dài.

Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, tình hình thế giới và khu vực đã trải qua những biến động lớn, bên cạnh cơ hội, thuận lợi, cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới. Cạnh tranh nước lớn diễn ra gay gắt, nguy cơ chạy đua vũ trang, các cuộc xung đột và tình hình căng thẳng, bất ổn trên thế giới gia tăng; kinh tế thế giới phục hồi chậm, an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen ngày càng phức tạp. Trong bối cảnh đó, hoạt động đối ngoại diễn ra hết sức sôi động, liên tục trong những năm qua đã minh chứng cho uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; mạng lưới các mối quan hệ đối tác của Việt Nam tiếp tục được củng cố và mở rộng, từng bước đi vào chiều sâu, gia tăng điểm đồng, đan xen lợi ích; chúng ta đã thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới điển hình như “CPTPP, EVFTA, RCEP, AFTA”. Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với đủ 5 Ủy viên Thường trực và các thành viên của Liên hợp quốc; Kênh Đảng, với 247 chính đảng ở 111 quốc gia; Kênh Quốc hội, với hơn 140 nước; Kênh nhân dân, với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014 - 2016, 2023 - 2025; Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013 - 2017; Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) 2016 - 2018…. "Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay".

Những năm gần đây, các thế lực thù địch và bọn phản động vẫn luôn âm mưu phủ nhận giá trị lịch sử và nhân văn của “Ngoại giao cây tre Việt Nam”, chúng thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, kích động, cho rằng đường lối “ngoại giao cây tre”“gió chiều nào theo chiều nấy”, “không có chính kiến, thiếu lập trường nhất quán”, “bắt cá hai tay”. Chúng lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội để lan truyền, đăng tải nhiều thông tin sai sự thật, hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế, gây ra sự hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam nhằm tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới.

Sinh ra và lớn lên trong hòa bình, nền hòa bình có được từ biết bao xương máu, nước mắt, trí tuệ của người Việt Nam, thế hệ trẻ là những búp măng non, những thân tre nhỏ sẽ dần thay thế, kế thừa thành tựu của lớp cha ông đi trước; là thế hệ nắm giữ tương lai, vận mệnh của đất nước, dân tộc. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và thế giới, chúng ta cần phải nhìn nhận rõ, luôn tự hào và tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; tự giác học tập nâng cao trình độ và trau dồi kiến thức thực tiễn, từ đó “tăng cường sức đề kháng”, “miễn dịch” của chính mình trước âm mưu của các thế lực thù địch.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TIẾP TỤC SOI SÁNG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. 

Đây là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về mục tiêu xây dựng về một đất nước Việt Nam hòa bình và thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Để đạt mục tiêu đó, con đường độc lập của dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu và con đường này đúng theo lý luận Mác- Lê nin; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước cách mạng, xác định lực lượng cách mạng là toàn thể nhân dân Việt Nam yêu nước, xây dựng con người Việt Nam có năng lực và phẩm chất đạo đức cách mạng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở quan hệ quốc tế hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển; với phương pháp cách mạng phù hợp.

          Hiện nay, mặc dù đất nước đã hoàn toàn độc lập nhưng tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Các nền kinh tế trên toàn cầu vừa bị suy thoái sau đại dịch COVID-19, lại tiếp tục bị ảnh hưởng từ các cuộc xung đột vũ trang như: Nga-Ukraine, Hamas-Israel, bất ổn chính trị tại Myanmar và Bangladesh…Các nước lớn đang điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến việc sản xuất và phân phối toàn cầu. 

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII của Đảng tiếp tục khẳng định Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

 Với giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục soi đường, chỉ lối cho Đảng và dân tộc ta trên con đường đổi mới, cần quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo và phát huy những giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức, phong cách đổi mới của Người với những nội dung cơ bản sau đây:

- Đổi mới phải kiên định, vững vàng và không ngừng sáng tạo xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Muốn đổi mới thắng lợi, phải kiên định lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định, vững vàng, không dao động, “đổi mới” không “đổi màu”, không rơi vào giáo điều, bảo thủ và phải không ngừng sáng tạo. Kết hợp tổng kết sâu sắc, toàn diện thực tiễn đổi mới của đất nước với nắm bắt, dự báo chính xác những chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, những xu hướng phát triển mới của thế giới, cập nhật những tri thức mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những bài học thành công của các nước phù hợp với điều kiện nước ta, không ngừng hoàn thiện đường lối đổi mới, làm cho đường lối đổi mới phản ánh, giải quyết đúng những đòi hỏi khách quan của thực tiễn đất nước; đồng thời, phù hợp với xu thế thời đại.

- Đổi mới, phát triển là một tiến trình vận động khách quan của lịch sử, là nhu cầu, khát vọng của nhân loại. Toàn cầu hóa và sự phát triển bùng nổ công nghệ thông tin, cùng hệ thống kết cấu hạ tầng toàn cầu, làm cho các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, tùy thuộc lẫn nhau; hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trở thành một xu thế lớn không thể đảo ngược. Tư tưởng và sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự gắn bó chặt chẽ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, về việc tăng cường hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi,.. vẫn còn nguyên vẹn giá trị định hướng con đường đổi mới. Hội nhập nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, dựa vào sức mình là chính.

- Đổi mới là một quá trình cách mạng lâu dài, gian khổ, muốn giành thắng lợi, Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng với tư cách là lực lượng lãnh đạo phải tự đổi mới, nêu gương đổi mới, trước hết là đổi mới phong cách tư duy, phong cách lãnh đạo, để phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương lớn, truyền lại bài học lớn về phong cách đổi mới; nhạy bén nắm bắt diễn biến lịch sử, chủ động tranh thủ thời cơ, giữ vững nguyên tắc và mạnh dạn sáng tạo, kịp thời đổi mới, gắn liền lý luận với thực tiễn.

- Đổi mới phải gắn liền phát triển đồng bộ, toàn diện các mặt của đời sống xã hội chính là sự nhận thức một cách đúng đắn về chủ nghĩa xã hội; về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng những hình thức, bước đi, biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn. Công cuộc đổi mới cần tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ, từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn, phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, trước hết là kinh tế, đổi mới chính trị từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Phát triển toàn diện các mặt của đời sống xã hội phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân theo tinh thần “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”.

- Nền tảng đạo đức của đổi mới là lợi ích tối cao của dân tộc, của nhân dân, hạnh phúc của con người. Lấy độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất và sự giàu mạnh của quốc gia làm mục đích trên hết, trước hết; lấy quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân, sự phát triển toàn diện và hạnh phúc của con người Việt Nam làm đạo lý đổi mới. Nhân dân là chủ thể của đổi mới và là người thụ hưởng thành quả của đổi mới; con người là mục tiêu và động lực của đổi mới. Đó chính là bản chất nhân đạo, nhân văn của đổi mới theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

- Đổi mới cần phát triển xã hội theo hướng nhân văn, lấy con người làm trung tâm, xem phát triển con người - cả cá nhân và cộng đồng - vừa là mục tiêu cao nhất vừa là động lực to lớn nhất của tiến trình đổi mới ở nước ta. Phát triển xã hội đòi hỏi phải đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu cơ bản trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người. Trước hết, đó là những nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại, phòng chữa bệnh, xây dựng gia đình, nuôi dạy con cái... bảo đảm cho con người có thể sống như những sinh thể cấu thành xã hội. Những nhu cầu nêu trên không thể tự thỏa mãn mà phải thông qua lao động sản xuất của chính con người để tạo ra của cải vật chất. Tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế do đó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển xã hội.