Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016

Vẫn là trò xuyên tạc, lừa bịp dư luận

Hiện tượng mượn danh đấu tranh cho dân chủ của một số phần tử cơ hội chính trị ở Việt Nam lâu nay không còn lạ đối với dư luận. Những người này thường nhân cơ hội trong nước xảy ra một sự việc gì đó thì dựa vào để viết bài, tung lên mạng xã hội, hoặc đăng tải trên một số trang tin lâu nay vẫn có tư tưởng thiếu thiện chí, thù địch với Việt Nam.

Trong các bài viết, họ thường phân tích, suy thế này, luận thế kia một cách hoàn toàn chủ quan, từ hiện tượng mà suy thành bản chất, sau đó đưa ra những kết luận theo kiểu: Xảy ra các sự cố đó là do “sự yếu kém trong bộ máy lãnh đạo của Đảng”, “sự hạn chế trong điều hành của Chính phủ”... Nhằm che mắt người đọc, trong các bài viết, họ thường bịa ra các con số để minh họa cho các nhận định mà nếu không tìm hiểu kỹ thì người đọc rất dễ bị nhầm lẫn. Bài viết của Nguyễn Vũ Bình, đăng trên RFA vừa qua là một dạng như vậy.
Trong bài viết của mình, Nguyễn Vũ Bình đã vừa xiên xẹo về công tác xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), vừa đưa ra những nhận định hết sức mơ hồ về cái gọi là “sự sụp đổ của Đảng Cộng sản”. Những con số mà Nguyễn Vũ Bình đưa ra để minh chứng cho các nhận định của mình trong bài viết thì lại càng lố bịch. Chẳng hạn, Bình cho rằng hiện nay, đất nước ta đang duy trì lực lượng vũ trang với số quân lên tới “10 triệu người”; rồi lại cho rằng đội ngũ công chức, viên chức lên tới “15 triệu người”... Đây quả thực là những con số phi lý và hoang tưởng. Bởi trên thế giới này, không một đất nước nào có thể làm một việc vô lý, đó là trong thời bình mà lại duy trì một đội quân thường trực lên tới hơn 11% dân số. Ngay cả khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta bước vào giai đoạn cuối-giai đoạn cần một lực lượng lớn nhất để thực hiện đòn quyết chiến chiến lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam thì lực lượng vũ trang của chúng ta cũng không đạt đến con số 10 triệu người...
Còn về con số “15 triệu người trong bộ máy Đảng, Nhà nước” như Bình đã viết thì thực tế tính đến hết năm 2015, lãnh đạo Bộ Nội vụ cho biết, cả nước có khoảng 11 triệu người hưởng lương và tính chất lương (bao gồm cả lực lượng vũ trang, y tế, giáo dục v.v..). Còn tổng số công chức hưởng lương trong hệ thống chính trị từ cấp huyện trở lên (không bao gồm lực lượng vũ trang) được Thủ tướng phê duyệt năm 2015 chính thức là 277.055 người. Và con số này tiếp tục giảm trong năm 2016 khi Nhà nước ngày càng thực hiện nghiêm việc tinh giản biên chế để bảo đảm bộ máy ngày càng tinh gọn theo hướng chỉ bổ sung không quá 50% số công chức so với số nghỉ hưu... Như thế có thể thấy, việc Nguyễn Vũ Bình cố tình bịa ra những con số hoang đường về lực lượng vũ trang và đội ngũ công chức, viên chức... là nhằm tạo ra sự hiểu lầm trong dư luận về hệ thống tổ chức chính trị ở Việt Nam. Và cũng từ đây có thể thấy, những điều Bình nhận định trong bài viết về các vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam... đều nhằm mục đích xuyên tạc, lừa bịp dư luận.
TRẦN THÔN

Định hướng tư tưởng cho sinh viên

Sinh viên là lực lượng chủ yếu ở các học viện, trường đại học, cao đẳng. Tuổi đời của họ còn trẻ, luôn tiên phong trong mọi hoạt động. Họ là những con người đang phát triển mạnh về thể chất và tinh thần, giàu ước mơ hoài bão, luôn có mong muốn vươn lên nắm bắt tri thức của nhân loại để tự hoàn thiện mình về mọi mặt.

Sinh viên Việt Nam xuất thân từ các giai tầng khác nhau của mọi miền đất nước, với mức thu nhập của gia đình rất khác nhau, tập trung về các trung tâm kinh tế, chính trị các thành phố và thị xã để sống và học tập. Về cơ bản họ mới tốt nghiệp trung học phổ thông, vừa ra khỏi sự quản lý của thầy giáo, cô giáo ở nhà trường và gia đình, để sống cuộc sống tập thể trong ký túc xá, hoặc trọ học xung quanh các trường đại học và cao đẳng. Tức là với họ vừa mới có cuộc sống tự lập, tự quản và tập thể. Sinh viên thường khá nhanh nhạy trong việc tiếp thu các thông tin mới, cũng như những luồng tư tưởng mới trong xã hội, song khả năng phân tích và chọn lọc còn có những hạn chế. Trong thực tế, nhiều sinh viên còn chưa hiểu sâu về chính trị, lập trường tư tưởng chưa vững vàng, nên dễ dao động, dễ bị lôi kéo...
Sinh viên luôn có mong muốn vươn lên nắm bắt tri thức của nhân loại để tự hoàn thiện mình về mọi mặt. Ảnh: qdnd.vn
Với một số đặc điểm của sinh viên như đã nêu trên nên sinh viên là đối tượng mà các thế lực thù địch hướng tới, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhằm mục tiêu chống phá cách mạng trong hiện tại và tương lai.
Những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sinh viên thời gian vừa qua tập trung vào một số vấn đề như: Thâm nhập vào tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên nhằm phá vỡ các tổ chức này; đưa các ấn phẩm văn hóa đồi trụy, phản động vào trong đời sống tinh thần của sinh viên; lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”; thông qua các chương trình học bổng; thông qua các hội thảo quốc tế; sử dụng internet để tuyên truyền, kích động; bằng nhiều phương pháp tuyên truyền, xuyên tạc, mua chuộc, lôi kéo sinh viên vào con đường lầm lạc chống lại Nhà nước, chế độ, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân. Có nhiều đối tượng đã len lỏi vào các ký túc xá sinh viên, giảng đường, đến các hội thảo khoa học, sử dụng internet... lôi kéo, kích động, nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho những vụ gây rối trật tự an ninh trong đời sống sinh viên và trong xã hội.
Nhưng với sự nhanh nhạy và bản lĩnh vững vàng của mình, cũng đã có nhiều sinh viên phát hiện và đấu tranh trực diện đối với việc tuyên truyền, kích động của chúng một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, không ít sinh viên còn mơ hồ về chính trị; thiếu kinh nghiệm sống nên bị mắc mưu chúng. Đặc biệt trong những ngày chúng ta chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, có sinh viên bị kích động đã lập các blog cá nhân đăng tải nội dung cổ xúy cho các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, từ đó có các bình luận xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và toàn xã hội… Đây là việc làm của những sinh viên nhận thức chính trị hạn chế, nông nổi trong suy nghĩ, bồng bột trong hành động, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước...
Từ thực tiễn hoạt động chống phá về chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch đối với sinh viên thời gian vừa qua; để phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sinh viên, các học viện, trường đại học, cao đẳng cần tập trung làm tốt một số vấn đề sau:
Một là, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên trong các học viện, nhà trường.
Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên trong các học viện, trường đại học, cao đẳng phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, giản dị, có ý chí vươn lên trong cuộc sống cũng như trong học tập, nghiên cứu khoa học, có uy tín và tích cực trong công tác Đoàn, công tác Hội và gần gũi với quần chúng.
Nội dung hoạt động của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên phải phong phú, thiết thực, sinh động..., mục tiêu là giáo dục cho sinh viên sống và làm việc theo pháp luật, theo bản sắc văn hóa dân tộc; làm cho sinh viên thấm nhuần truyền thống dân tộc, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, truyền thống của học viện, nhà trường nơi sinh viên đang theo học; định hướng đạo đức nghề nghiệp; từ đó họ phải kiên định với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, nhân dân và cả dân tộc Việt Nam lựa chọn. Bằng nhiều hình thức, thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng để sinh viên tự xác định về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của mình. Ban giám đốc, Ban giám hiệu các học viện, trường đại học, cao đẳng cần tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần cho tổ chức Đoàn và Hội Sinh viên của trường hoạt động.
Hai là, tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho sinh viên.
Hiện nay, các môn học: Chính trị Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là những môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của bậc đại học và cao đẳng. Thời lượng của các môn học này đã hợp lý, song điều quan trọng là phương pháp giảng dạy các môn học đó sao cho có hiệu quả. Quá trình truyền thụ, cần giảng giải ngắn gọn, súc tích về lý luận, tăng cường thời lượng thảo luận, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trao đổi để nhận thức tri thức khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Giáo dục nâng cao nhân sinh quan, thế giới quan và đạo đức cộng sản: Các giá trị truyền thống dân tộc, lý tưởng, niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa cho sinh viên; đồng thời phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái, lệch lạc và làm rõ âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch để sinh viên có biện pháp phòng ngừa. Nếu chúng ta làm tốt công tác giáo dục cho sinh viên, thì kẻ thù dù có nham hiểm và thâm độc đến đâu cũng thất bại.
Ba là, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho sinh viên.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, đời sống vật chất và tinh thần của sinh viên hiện nay vẫn còn nhiều thiếu thốn. Đây là kẽ hở để các thế lực thù địch tìm cách lợi dụng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sinh viên. Vì vậy, nhiệm vụ của Ban giám đốc, Ban giám hiệu các học viện, trường đại học, cao đẳng càng nặng nề hơn trong việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho sinh viên. Những công việc cần làm là: Cải tạo điều kiện sinh hoạt trong các ký túc xá, giảm tới mức tối thiểu việc đóng góp của sinh viên. Có chế độ chính sách đầy đủ, hợp lý và toàn diện về học bổng, học phí, lệ phí. Tăng cường trang thiết bị phòng thí nghiệm, thư viện để thu hút sinh viên vào học tập và nghiên cứu khoa học nhiều hơn nữa. Tăng cường cơ sở vật chất và tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao hợp lý và đúng định hướng chính trị của Đảng và Nhà nước, tạo môi trường văn hóa lành mạnh để lôi cuốn sinh viên tham gia.
Bốn là, xây dựng lực lượng nòng cốt trong sinh viên.
Phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng đối với sinh viên cần phải có nhiều lực lượng tham gia, với nhiều biện pháp sát thực, nhưng vấn đề quan trọng là phải tạo ra sức đề kháng mạnh để họ đủ sức “miễn dịch” trước âm mưu và thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch là cách tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải giáo dục cho mọi sinh viên thấm nhuần tư tưởng đạo đức cách mạng, có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình cao. Cần xây dựng lực lượng nòng cốt trong sinh viên, họ là những sinh viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, tích cực, khách quan, gần gũi với bạn bè cùng lứa. Đây cũng chính là lực lượng trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng cho các sinh viên khác nhằm loại bỏ các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch khi chúng vừa nhăm nhe xâm nhập, tác động vào môi trường sống của sinh viên.
TRẤN VĂN HUYÊN 

Sự mập mờ của một vị tiến sĩ

 Mới đây, trang điện tử BBC tiếng Việt cho đăng tải đoạn phỏng vấn một vị “tiến sĩ, nhà nghiên cứu cao cấp thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á và Viện Chiến lược quốc tế tại Xin-ga-po”. Ông tiến sĩ này trả lời BBC về vấn đề đổi mới chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là chuyển từ “một đảng lãnh đạo thành đa đảng đối lập”.

Không hiểu vị tiến sĩ này dựa vào đâu mà luận bàn như vậy bởi Đảng ta đã công khai trước dư luận trong nước và quốc tế về công cuộc đổi mới cả về lãnh đạo phát triển kinh tế, cả về chính trị, tư tưởng của Đảng. Về kinh tế, Đảng ta nhất quán duy trì có hiệu quả nền kinh tế nhiều thành phần, không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về chính trị, Đảng ta nhất quán và quyết tâm thực hiện quan điểm tự đổi mới, tự chỉnh đốn, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Sự quyết tâm ấy được thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” - gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4. Tinh thần, nội dung của Nghị quyết Trung ương 4 đã được công khai trước toàn thể nhân dân Việt Nam và được tổ chức học tập, quán triệt, thực hiện sâu kỹ đối với mọi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều nhận thấy rằng, những nguy cơ mà Nghị quyết Trung ương 4 chỉ ra đã rất rõ, rất thật, vì vậy việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh là trách nhiệm, bổn phận của mọi tổ chức Đảng, mọi đảng viên. Với quyết tâm từ Ban Chấp hành Trung ương cho tới từng chi bộ, từng đảng viên, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thu được những kết quả tích cực và đã được ghi nhận trong Báo cáo chính trị trình Đại hội lần thứ XII của Đảng.
Tuy nhiên, Đảng cũng thừa nhận là trong quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cũng còn những vấn đề cần phải rút kinh nghiệm, trong đó có kết quả về phòng, chống tham nhũng, lãng phí còn hạn chế; tình trạng chạy chức, chạy tội, suy thoái chính trị, tư tưởng vẫn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên v.v.. Đó là những vấn đề mà Đảng sẽ quyết liệt và nghiêm túc khắc phục trong thời gian tới, bảo đảm cho Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một Đảng cách mạng, luôn là một khối đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, giữ vững vai trò là lực lượng lãnh đạo xã hội như Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định.
Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Đổi mới về chính trị tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là đổi mới về tư duy lãnh đạo, về lề lối làm việc, đổi mới phong cách, tác phong công tác của mọi tổ chức Đảng, mọi đảng viên, nhằm bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Tuyệt nhiên không thể mập mờ cho rằng công cuộc đổi mới về chính trị, tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chuyển từ “một đảng lãnh đạo thành đa đảng đối lập” như cách trình bày của vị tiến sĩ nọ với trang điện tử tiếng Việt của BBC.
TRẦN THÔN

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016

Giới hạn của tự do tôn giáo

Trong thế giới hiện đại, mọi nhà nước đều khẳng định quyền tự do tôn giáo trong xã hội, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc: Mọi hoạt động tôn giáo phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Điều đó cho thấy, tự do tôn giáo là có giới hạn. Vì thế, một số người đang lấy tư cách tín đồ thay thế tư cách công dân trong hoạt động xã hội, cần nhận thức nghiêm túc về vấn đề này…
Thời gian qua, CH Pháp phải chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực vì một bộ phận cực đoan trong cộng đồng Hồi giáo đã lợi dụng tự do tôn giáo để có hành động vi hiến. Trước thực tế đó, các cơ quan lập pháp, hành pháp của nước này đưa ra một số biện pháp cứng rắn. Ngày 16-2-2016 trang mạng Đài Phát thanh Đức (Deutschlandfunk) đăng bàiSợ khủng bố - Một người Pháp theo đạo Hồi giáo phản đối sự quản thúc. Bài báo cho biết, kể từ sau các cuộc tiến công khủng bố vào tháng 11-2015, chính quyền Pháp đã khám xét hơn 3.000 ngôi nhà và đã quản thúc khoảng 400 người. Những biện pháp này được tiến hành mà không có lệnh của tòa án. Yumes (Y-u-mét) 29 tuổi, không được rời khỏi căn hộ của mình vào ban đêm; vì cảnh sát cho rằng, anh này đã đến thăm một thánh đường Hồi giáo và liên hệ với một số người Hồi giáo cực đoan. Yumes coi đây là việc làm sai trái và mình vô tội, cho nên đã kiện ra tòa song không được tòa chấp nhận. Vì vậy, Yumes không được ra khỏi địa phận thành phố vào ban ngày. Không chỉ các hành động liên quan bạo lực hay khủng bố, mà trong cư xử hằng ngày, ngay cả việc ăn mặc, có biểu hiện lợi dụng tự do tôn giáo cũng bị cấm. Thí dụ ở Bỉ, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp và bang Tessin (Tét-sin, Thụy Sĩ) cấm phụ nữ Hồi giáo mặc Burka (buốc-ca - kiểu áo dài che toàn thân). Tòa án Nhân quyền châu Âu đã phán quyết coi điều luật nghiêm cấm như vậy là chuẩn xác. Ngày 11-4-2016, trang mạng của Đài Phát thanh Đức đăng bài Pháp 5 năm cấm mặc Burka. Bài báo cho biết, thời gian qua ở Pháp có 1.500 người phụ nữ mặc Burka ở nơi công cộng đã bị phạt tiền, mỗi lần phạt 150 ơ-rô. Cả khi đang làm việc mà phụ nữ theo Hồi giáo trùm khăn che đầu cũng có thể bị cấm. Như ngày 31-5-2016, Báo miền nam Đức (Süddeutsche Zeitung) đăng bài Cấm khăn trùm đầu lệnh ở nơi làm việc là hợp pháp về trường hợp một phụ nữ Hồi giáo làm việc tại bộ phận lễ tân của một công ty thuộc Vương quốc Bỉ. Sau ba năm làm việc, phụ nữ này yêu cầu được phép trùm khăn che đầu của phụ nữ theo Hồi giáo, nhưng đã không được chấp nhận và bị buộc thôi việc. Công ty này bị kiện ra tòa, vì nguyên đơn cho rằng, đã vi phạm tự do tôn giáo. Nhưng các thủ tục xét xử ở Bỉ lại đều xác nhận sự chuẩn xác của việc nghiêm cấm. Cuối cùng, tòa phúc thẩm của Vương quốc Bỉ chuyển hồ sơ tới Tòa án Nhân quyền châu Âu. Công tố viên Tòa án Nhân quyền châu Âu tuyên bố việc cấm là đúng luật và cho biết tòa sắp ra phán quyết cuối cùng trên tinh thần đó.
Tương tự, ngày 25-5-2016, trang mạng Đài Phát thanh và Truyền hình Thụy Sĩ (SRF) đăng bài Những giới hạn của tự do tôn giáo, theo đó, một sự việc xảy ra ở Trường tiểu học Therwil (The-vi-lơ) được bàn luận vượt ra khỏi ranh giới đất nước. Hai học sinh nam, con của một gia đình di cư đến từ Syria (Xy-ri) từ chối bắt tay cô giáo của mình, vì cho rằng, đàn ông theo đạo Hồi không được phép làm điều đó. Cơ quan giáo dục không chấp nhận hành động này và trưng cầu giám định của chuyên gia pháp lý. Theo bản giám định được công bố, thì từ chối bắt tay phụ nữ ở Thụy Sĩ là một hành động vượt quá khuôn khổ tự do tôn giáo. Nếu hai học sinh tiếp tục lạm dụng tự do tôn giáo sẽ bị phạt. Liên quan đến tự do tôn giáo của học sinh trong hoạt động nhà trường, ở CHLB Đức cũng có một thủ tục xét xử theo luật hành chính tại tòa án chuyên trách cao nhất Liên bang. Như bài Tự do tôn giáo: Phụ nữ Hồi giáo phải tham gia học bơi trênThời gian trực tuyến (Zeit Online) ngày 11-9-2013 cho biết, một nữ sinh 11 tuổi ở Frankfurt (Phơ-ranh-phuốc) xin nhà trường cho miễn học môn bơi lội, vì theo quy định của đạo Hồi, phụ nữ không được mặc hở hang trước nam giới. Và nhà trường đã từ chối yêu cầu. Tiếp đó, đơn kiện của nữ sinh đã bị tòa án các cấp từ địa phương đến trung ương bác bỏ. Tòa án hành chính tối cao cũng phán quyết, tự do tôn giáo không thể vượt qua giới hạn; để tôn trọng các quy định khác, nếu thấy cần thiết nữ sinh này có thể mặc áo bơi che toàn thân.
Ở CHLB Đức, luật pháp không cấm phụ nữ theo Hồi giáo mặc Burka tại nơi công cộng, nhưng cấm nữ sinh dùng Niqab (tấm màn che mặt, thường được dùng cùng áo choàng mầu đen) khi đến trường. Tạp chí Tấm gương trực tuyến (Spiegel Online) đăng bàiPhán quyết ở Bavaria: Học sinh không được đến lớp học với bức màn che mặt ngày 25-4-2014, cho biết, một nữ sinh trường học nghề ở bang Bavaria (Ba-va-ri-a) đã kiện ra tòa vì bị cấm dùng Niqab khi đến trường. Tòa án hành chính tối cao của bang này phán quyết rằng, giới hạn tự do tôn giáo như vậy là không trái luật. Mới đây, một sự kiện được nhắc tới để chỉ ra giới hạn của tự do tôn giáo. Như theo bài Người phụ nữ mặc Burka cũng muốn mình như tất cả phụ nữ Đức khác đăng trên tờ Thế giới (Die Welt) ngày 20-4-2016 thì một phụ nữ theo đạo Hồi với tư cách vừa là nhân chứng, vừa là người bị hại vì bị xúc phạm, khi ra trước tòa án của tiểu bang Munich (Mu-ních) trong phiên xử phúc thẩm đã mặc Burka và che kín mặt. Trong thủ tục sơ thẩm, phụ nữ này từ chối cho quan tòa xem mặt vì lý do tôn giáo. Nhưng tòa án đã làm tất cả, kể cả trưng cầu giám định về luật Hồi giáo để chứng minh tự do tôn giáo không thể vô giới hạn, đồng thời buộc phụ nữ này phải chấp nhận yêu cầu của tòa.
Những gì xảy ra vừa qua ở CHLB Đức đối với giáo phái “Mười hai bộ lạc” được coi là thí dụ sinh động về giới hạn của tự do tôn giáo. Ra đời từ những năm 70 thế kỷ trước ở Mỹ, giáo phái “Mười hai bộ lạc” coi mình là dòng Kitô giáo ban đầu và chính thống, mọi thành viên giáo phái sinh sống, thực hành đức tin theo đường hướng trung thành Kinh thánh. Cuối thế kỷ 20, giáo phái này mở rộng ảnh hưởng tới các nước châu Âu như Pháp, Đức, CH Séc… Do phương cách sống, quan niệm sống có đặc điểm riêng cho nên ở Đức họ đã gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong giáo dục thành viên trẻ. Không chấp nhận giáo dục công cộng, họ tự lo tổ chức dạy học. Theo giáo phái “Mười hai bộ lạc”, giáo dục giới tính là cấm kỵ, roi vọt và hành vi đánh đập được thực hiện phổ biến đối với trẻ em. Cơ quan công quyền CHLB Đức đã có biện pháp cứng rắn, như phạt tiền, truất quyền nuôi dưỡng con cái. Ngày 15-1-2014, trang mạng Đài Phát thanh Đức đăng bài Cô giáo hay đánh đập của cộng đồng tôn giáo “Mười hai bộ lạc” phải ngồi tù cho biết: Một cô giáo 56 tuổi thường đánh đập học sinh theo truyền thống tôn giáo của mình và đã bị kết án hai năm tù sau phiên tòa phúc thẩm. Sau khi chủ tọa đọc xong bản án, bị cáo bị bắt giam ngay tại phòng xét xử.
Ngày 15-6-2004, trang mạng bpb.de thuộc Trung tâm giáo dục chính trị Liên bang - cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ CHLB Đức, đăng bài Những giới hạn của tự do tôn giáo, có đoạn viết: “… Tự do thực hành tôn giáo là một trong các quyền cơ bản của con người, được xác định trong tất cả các hiến pháp và trong Tuyên bố Nhân quyền của Liên hợp quốc. Nhưng tự do này không phải là tuyệt đối. Tự do tôn giáo bị hạn chế trong những quyền cơ bản và quyền của con người khi có sự cạnh tranh, vi phạm tự do của người khác. Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ các quyền cơ bản khi có cạnh tranh và mang lại một cân bằng xác đáng... Với các giới hạn của các quyền cơ bản - đặc biệt là quyền tự do thực thi tôn giáo - thì trách nhiệm thuộc về trật tự nhà nước và tòa án. Cần nhận biết sự tách biệt giữa nhà thờ với nhà nước và cần chỉ rõ các giới hạn. Giới hạn ở đây là phải nhận thức rằng, giới luật tôn giáo không phải là xác định trật tự chính trị, cần phải được ràng buộc qua việc tôn trọng các quyền con người. Cứu rỗi tôn giáo không thể là nỗ lực phấn đấu về chính trị…”.
Dẫn chứng và quan điểm nêu trên cho thấy, chính quyền các nước phương Tây không làm ngơ trước bất kỳ hành động nào đi ngược quy định chung của xã hội, dù người vi phạm là thành viên một cộng đồng tôn giáo. Họ thường xuyên nhắc nhở, kêu gọi mọi người suy nghĩ, hành động trên cơ sở nguyên tắc: Tự do tôn giáo là có giới hạn. Rất nhiều người bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì có hành vi nhân danh tôn giáo mà vượt qua những giới hạn luật pháp cho phép. Vậy nên thiết nghĩ, dù ở Việt Nam hay phương Tây thì việc đề nghị Nhà nước giải quyết yêu cầu nào đó là quyền của người dân, tuy nhiên, Nhà nước lại đòi hỏi mỗi người phải có trách nhiệm thực hiện các quyền này trong tư cách công dân, trong khuôn khổ luật pháp, không nhân danh tư cách nào khác. Ngày nay, nhân loại đã phát triển tới thời kỳ mọi xã hội đều được tổ chức, quản lý trên cơ sở pháp luật, yêu cầu trước hết mỗi người phải là một công dân sống, làm việc theo pháp luật. Nhân loại đã đi qua thời tôn giáo nào đó tự cho mình quyền đứng trên pháp luật. Chính vì thế không ai có thể tự cho mình có quyền nhân danh tôn giáo để đưa ra đòi hỏi phi lý, rồi khi không được đáp ứng thì lu loa chính quyền xâm phạm tự do tôn giáo! Từ ngày thành lập đến nay, Nhà nước CHXHCN Việt Nam luôn có đường lối, chính sách nhất quán trong khi khẳng định quyền tự do tôn giáo của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện để công dân theo bất kỳ tôn giáo nào cũng có thể vừa thực hiện trách nhiệm công dân, vừa thực hành đức tin tôn giáo của mình. Không ai có thể phủ nhận sự thật là mọi tôn giáo ở Việt Nam luôn được Nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện để phát triển. Do vậy, việc một số quốc gia, tổ chức quốc tế bằng thái độ phiến diện, thiếu khách quan, sử dụng cái gọi “tiêu chuẩn kép” để đưa ra những đánh giá sai trái về tự do tôn giáo ở Việt Nam, xét đến cùng là nhằm làm tổn hại uy tín của Nhà nước Việt Nam và phải chăng qua đó, họ muốn hậu thuẫn, tiếp tay cho một số người đã và đang nhân danh tự do tôn giáo để thực hiện mưu đồ chính trị đen tối?
THANH HẢI

Không chỉ sắc đẹp mà cần cả tài năng, nhân cách

Có lẽ chưa bao giờ các cuộc thi tôn vinh nhan sắc phái đẹp lại nở rộ như hiện nay, điều này cho thấy sự quan tâm, trân trọng của xã hội đối với phụ nữ. Đáng tiếc là sau khi đoạt giải cao tại cuộc thi sắc đẹp, một số người lại có hành xử tùy tiện, phản cảm,… khiến dư luận bất bình.
Trung tuần tháng 7 vừa qua, trước ứng xử bất thường của một hoa hậu ở nơi công cộng, PGS,TS Nguyễn Thị Minh Thái đã lên tiếng trên báo chí bày tỏ sự bức xức, đồng thời đề nghị “trả lại vương miện bằng lòng tự trọng”. Không thể phủ nhận kể từ khi nhận danh hiệu hoa hậu, người đẹp này đã bộc lộ một số lỗi ứng xử, như: đi làm từ thiện nhưng lại trang điểm quá đậm không phù hợp với hoàn cảnh thực tế; chỉ ôm quả dưa chụp bức ảnh cho thấy cô đã làm từ thiện rồi lập tức lên ta-xi bỏ đi; không giúp đỡ người mẹ của mình đang loay hoay đẩy xe chở đồ tại sân bay; thiếu tôn trọng người khác khi nhiều lần đến họp báo muộn… Đặc biệt mới đây nhất, hình ảnh người đẹp này hút thuốc tại một quán cà-phê ở Hà Nội, thậm chí đang say xỉn trong một quán bar khiến chân dung một hoa hậu đã không chỉ nhạt nhòa, mà còn gây phản cảm, không đáp ứng sự trông đợi của công chúng. Sau khi những hình ảnh này được đăng tải trên in-tơ-nét, nhiều diễn đàn trên mạng đã thu hút rất đông người vào bình luận, làm nên một “làn sóng đòi tước danh hiệu hoa hậu”. Sự kiện cho thấy, dường như trước một vẻ đẹp được tôn vinh, công chúng đòi hỏi không chỉ sự chuẩn mực về hình thức bên ngoài, mà còn cả sự khắt khe về nhiều yếu tố khác, như: văn hóa ứng xử, trách nhiệm trước cộng đồng,…
Để bảo đảm sự toàn vẹn về danh tiếng của hoa hậu, trên thế giới từng xảy ra việc tước vương miện hoa hậu với nhiều lý do. Hoa hậu Thế giới năm 1973 đã bị tước danh hiệu chỉ sau 104 ngày đăng quang vì cô hẹn hò với người đã có vợ. Hoa hậu Hoàn vũ năm 1974 phải trả lại vương miện vì không tuân theo những quy định của Ban tổ chức trong nhiệm kỳ đăng quang, từ chối thực hiện chuyến hành trình đã được lên lịch sẵn tới Nhật Bản. Sau hai tháng đăng quang, Hoa hậu Thế giới Singapore năm 2009 đã bị tước vương miện do bị tố giác cô từng phạm tội ăn cắp thẻ tín dụng và bị kết án hai năm tù treo. Hoa hậu Vương quốc Anh năm 2015 bị tước vương miện vì có “cảnh nóng” trên một chương trình truyền hình thực tế. Mới đây nhất, Hoa hậu Hoàn vũ Puerto Rico năm 2016 do “có vấn đề về thái độ” và không hoàn thành trách nhiệm của người đăng quang cuộc thi nhan sắc, nên chỉ sau bốn tháng nhận vương miện cũng đã bị tước danh hiệu. Rõ ràng để được nhận ngôi vị cao nhất trong một cuộc thi nhan sắc đã là thử thách không dễ vượt qua với các người đẹp, nhưng để giữ được danh hiệu cao quý ấy còn đòi hỏi nỗ lực rất lớn của mỗi người.
Ở Việt Nam, kể từ khi diễn ra các cuộc thi người đẹp đến nay, hầu như chưa hoa hậu nào bị tước vương miện, nhưng có nhiều hiện tượng một số người đẹp sau khi đăng quang ít nhiều gây ra tai tiếng, khiến công chúng thất vọng. Từ đây dấy lên các ý kiến đòi hỏi cần nghiêm khắc hơn với những người đã đăng quang tại các cuộc thi sắc đẹp. Công chúng hẳn chưa quên những bức ảnh mặc áo dài nhưng thiếu nội y gây phản cảm của Hoa hậu Việt Nam năm 2006, rồi thái độ thiếu lễ phép trong trò chuyện với người lớn tuổi trong một clíp quảng cáo của người đẹp này. Công chúng cũng sẽ khó bỏ qua hành vi thiếu trung thực của Hoa hậu Việt Nam năm 2008 vì đã giấu việc chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, vi phạm Quy chế tổ chức cuộc thi hoa hậu do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTTDL) ban hành. Còn có trường hợp người đoạt giải xin trả lại danh hiệu hoa hậu vì lý do sức khỏe không tốt bởi phải chịu áp lực công việc, là câu chuyện của Hoa hậu các dân tộc Việt Nam năm 2011. Một năm sau lá đơn xin trả danh hiệu được gửi đi, đơn vị tổ chức của cuộc thi đã gửi văn bản báo cáo Cục Nghệ thuật biểu diễn thuộc Bộ VHTTDL và một số cơ quan chức năng về các vi phạm của hoa hậu, như bỏ bê trách nhiệm, không thực hiện đúng nghĩa vụ của người đăng quang ngôi vị cao nhất một cuộc thi, đồng thời đề xuất Bộ VHTTDL ra văn bản quyết định thu hồi danh hiệu. Tuy nhiên, theo Chánh Thanh tra Bộ VHTTDL, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, thì chưa có điều nào liên quan việc thu hồi danh hiệu hoa hậu, cho nên danh hiệu Hoa hậu các dân tộc Việt Nam năm 2011 vẫn không bị tước, dù đã có đơn của chính người nhận danh hiệu và của Ban tổ chức cuộc thi! Cũng phải nhắc tới trường hợp á khôi một cuộc thi sắc đẹp và hoa khôi của một trường đại học đã tham gia vào đường dây bán dâm do Trần Đức Thùy Liên, Đoàn Thị Ngọc Minh tổ chức, đã bị Tòa án nhân dân TP Hạ Long (Quảng Ninh) đưa ra xét xử ngày 25-3-2016.
Việc tước danh hiệu của người đã từng đoạt giải cao tại các cuộc thi sắc đẹp là điều bất đắc dĩ và không ai muốn, bởi lẽ một cuộc thi được tổ chức đồng nghĩa với việc tiêu tốn thời gian, công sức, tiền bạc của rất nhiều cá nhân, tổ chức. Bên cạnh đó, việc lựa chọn để tìm ra gương mặt nổi trội nhất, xứng đáng nhất để trao giải không hề dễ dàng, nhưng nếu xảy ra sai sót, trao danh hiệu cho người không xứng đáng thì uy tín của cuộc thi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Như một người từng nhiều năm ngồi ghế Ban giám khảo của cuộc thi Hoa hậu Việt Nam đã chia sẻ: “Chúng tôi lo mất ăn mất ngủ. Trong khi các người đẹp tỏa sáng trên sân khấu thì chúng tôi vẫn phấp phỏng chờ tin từ phía cơ quan chức năng về việc xác định nhân thân của một người đẹp nào đó đang có đơn khiếu nại, vì thí sinh này có thể sẽ đoạt giải cao. Nếu không cẩn trọng như vậy, có thể cuộc thi sẽ thất bại, hậu quả rất khó lường”!
Hiện nay, cùng với cuộc thi Hoa hậu Việt Nam, thí sinh Việt Nam còn dự các “đấu trường nhan sắc” lớn, đó là các cuộc thi tầm cỡ quốc tế như: Hoa hậu Hoàn vũ, Hoa hậu Thế giới, Hoa hậu Quốc tế... Bên cạnh đó cũng xuất hiện nhiều cuộc thi hoa khôi, người đẹp của khu vực, của các địa phương, khối các trường học, kèm với đó là sự ra đời các “lò luyện hoa hậu”. Để tránh sự quản lý của các cơ quan chức năng, một số cuộc thi nấp dưới tên gọi khác nhưng thực chất vẫn là thi sắc đẹp. Thực tế có cuộc thi người đẹp chỉ diễn ra trong thầm lặng, từ lúc khai mạc đến khi kết thúc, báo chí không hề hay biết, chỉ tới khi hoa hậu cuộc thi này xuất hiện tại một sự kiện mọi người mới vỡ lẽ, tỏ tường! Lại có cuộc thi sau khi bị tố giác vì có dấu hiệu không lành mạnh, cơ quan chức năng vào làm việc mới phát hiện cuộc thi được tổ chức “chui” vì không xin phép! Khi các cuộc thi nở rộ thì cũng nảy sinh không ít chuyện bi hài. Bởi có người đẹp liên tục xuất hiện tại nhiều cuộc thi, cô chỉ chấp nhận dừng “sự nghiệp thi hoa hậu” sau khi đoạt giải ở cuộc thi nọ! Chuyện này hẳn có tác dụng động viên tinh thần nhiều người đẹp khác đang nuôi mộng hoa hậu! Cuộc thi nhiều thì đương nhiên các danh hiệu hoa hậu, á hậu cũng tăng lên. Vì thế, dù chuyên tâm theo dõi tin tức thời sự về các cuộc thi người đẹp đến đâu hẳn cũng khó ai nhớ hết các cuộc thi và các hoa hậu, á hậu đăng quang.
Trên thực tế, có thể coi việc đoạt ngôi vị cao tại các cuộc thi sắc đẹp là đã sắm được “thẻ căn cước” quý giá cho các người đẹp gia nhập làng giải trí, như: đóng phim, ca hát, trình diễn thời trang, chạy sự kiện, làm MC... Nên dễ hiểu vì sao dù mật độ các cuộc thi khá dày nhưng luôn thu hút đông đảo người đẹp tham gia. Một số người coi đây là cơ hội để đổi đời nên đã không tiếc tiền đầu tư vào các “lò luyện”; thậm chí không rõ thực hư ra sao nhưng dư luận từng ì xèo về việc có người coi đây như “thương vụ làm ăn”, cho nên không ngại ngã giá với ban giám khảo? Nắm bắt được tâm lý này, có người đã lợi dụng thí sinh bằng cách gạ gẫm mua chuộc hoặc vòi tiền họ. Bức xúc trước tình trạng này, có thí sinh đã lên tiếng tố cáo và lập tức bị Ban tổ chức loại khỏi cuộc thi. Có thí sinh tố cáo mình bị xử ép do không đáp ứng yêu cầu của một số thành viên Ban tổ chức, nên đã vứt danh hiệu “người đẹp hình thể” vừa nhận được vào thùng rác, đồng thời chia sẻ trên facebook: “Cái giải này em đâu cần Ban tổ chức công nhận thì em mới là người đẹp hình thể đâu. Em cảm thấy chương trình cấp ao làng quá! Ban tổ chức làm ăn không uy tín và thể hiện rõ sự không chuyên nghiệp”. Với tư cách là người trong cuộc, biết nhiều chuyện hậu trường, một người đẹp từng đoạt ngôi vị cao nhất của một cuộc thi sắc đẹp bày tỏ thẳng thắn: “Có lẽ chưa bao giờ các danh hiệu trao cho các người đẹp lại dễ dàng đến thế, chính cái tâm lý “chỉ cần có danh hiệu là vị thế được nâng lên” đã khiến các cuộc thi về nhan sắc nở rộ hơn bao giờ hết (...). Bên cạnh những danh hiệu từ các cuộc thi uy tín, lâu năm thì hầu hết các danh hiệu hoa hậu, á hậu còn lại gần như vô nghĩa, bởi nó được tạo ra từ một cuộc thi chỉ như một chương trình tạp kỹ”!? Ý kiến này còn được bổ sung qua các câu trả lời ứng xử đầy bi hài của một số người đẹp như: “Khi mình cho đi thì phải nhận lại được một ít”, “Kiến thức của em còn hạn hẹp, xin ban giám khảo cuộc thi cho em xin phép trả lời ở cuộc thi sau”…
Từ nhiều sự việc lùm xùm liên quan một số cuộc thi sắc đẹp, từ hành xử phản cảm của một số người sau khi được trao giải tại một số cuộc thi sắc đẹp, rõ ràng không thể không lo ngại về chất lượng các cuộc thi sắc đẹp ở Việt Nam lâu nay. Những hiện tượng này không chỉ làm ảnh hưởng tới ý nghĩa các cuộc thi sắc đẹp vốn là nơi tôn vinh giá trị toàn vẹn của phụ nữ, mà còn đẩy nghi ngờ về mục đích của một số cuộc thi và người dự thi. Một người được trao giải tại cuộc thi sắc đẹp có thể sẽ được xã hội chú ý, mà xã hội lành mạnh và chân chính luôn hướng tới người vẹn sắc vẹn tài, bên vẻ đẹp hình thể tự nhiên còn có trình độ tri thức, hiểu biết, sống nhân ái, có kỹ năng ứng xử văn hóa,... Do vậy, nếu dự thi, nếu được trao giải mỗi người đẹp cần ý thức về vai trò của mình, đồng thời các cơ quan chức năng liên quan cũng cần nâng cao trách nhiệm trong việc tổ chức và quản lý, để mỗi hoa hậu được xướng danh không chỉ bởi sắc đẹp, mà còn cả tài năng, nhân cách,…
THI PHONG